Sunday, February 13, 2011

Hồ Xuân Hương

Hồ Xuân Hương (chữ Hán: 胡春香) là nhà thơ Nôm nổi tiếng sống vào cuối thế kỷ 18, đầu thế kỷ 19. Bà đã để lại nhiều bài thơ độc đáo với phong cách thơ vừa thanh vừa tục và được mệnh danh là Bà chúa thơ Nôm. Hồ Xuân Hương được coi là một trong những nhà thơ tiêu biểu của văn học Việt Nam.


Tiểu sử của Hồ Xuân Hương đến nay vẫn còn nhiều điểm gây tranh cãi. Thậm chí có một vài ý kiến còn cho rằng những bài thơ được xem là của Hồ Xuân Hương hiện nay do nhiều người sáng tác, nghĩa là không có ai thực sự là Hồ Xuân Hương. Dựa vào một số tài liệu lưu truyền, những bài thơ được khẳng định là của Hồ Xuân Hương, các nhà nghiên cứu đã tạm thừa nhận một số kết luận bước đầu về tiểu sử của nữ sĩ:
  • Hồ Xuân Hương thuộc dòng dõi họ Hồ ở làng Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An. Đây là một dòng họ lớn có nhiều người đỗ đạt và làm quan nhưng đến đời Hồ Phi Diễn - thân sinh của bà - thì dòng họ này đã suy tàn.'
  • Theo các nhà nghiên cứu đầu tiên về Hồ Xuân Hương như Nguyễn Hữu Tiến, Dương Quảng Hàm thì bà là con ông Hồ Phi Diễn (sinh 1704) ở làng Quỳnh Ðôi, huyện Quỳnh Lưu, Nghệ An (*). Ông thi đậu tú tài năm 24 tuổi dưới triều Lê Bảo Thái. Nhà nghèo không thể tiếp tục học, ông ra dạy học ở Hải Hưng, Hà Bắc, để kiếm sống. Tại đây ông đã lấy cô gái Bắc Ninh, họ Hà, làm vợ lẽ - Hồ Xuân Hương ra đời là kết quả của mối tình duyên đó.[1]
  • Bà sống vào thời kỳ cuối nhà Lê, đầu nhà Nguyễn, tức cuối thế kỷ 18, đầu thế kỷ 19. Do đó bà có điều kiện tiếp thu ảnh hưởng của phong trào đấu tranh của quần chúng và chứng kiến tận mắt sự đổ nát của nhà nước phong kiến.
  • Bà xuất thân trong một gia đình phong kiến suy tàn, song hoàn cảnh cuộc sống đã giúp nữ sĩ có điều kiện sống gần gũi với quần chúng lao động nghèo, lăn lộn và tiếp xúc nhiều với những người phụ nữ bị áp bức trong xã hội.
  • Hồ Xuân Hương ít chịu ảnh hưởng của Nho giáo, vậy tại sao lại có chuyện "cổ nguyệt đình"?. Bà không dùng chữ nho cũng đâu thể cho rằng bà ít chịu ảnh hưởng của nho giáo, mà phải xem lại xã hội thời đó, bà là một nhà thơ nên cũng là một minh chứng cho xã hội thời đó về mặt nhân sinh quan cũng như về phương diện văn chương.
  • Bà là một phụ nữ thông minh, có học nhưng học hành cũng không được nhiều lắm, bà giao du rộng rãi với bạn bè nhất là đối với những bạn bè ở làng thơ văn, các nhà nho. Nữ sĩ còn là người từng đi du lãm nhiều danh lam thắng cảnh của đất nước.
  • Là một phụ nữ tài hoa có cá tính mạnh mẽ nhưng đời tư lại có nhiều bất hạnh. Hồ Xuân Hương lấy chồng muộn mà đến hai lần đi lấy chồng, hai lần đều làm lẽ, cả hai đều ngắn ngủi và không có hạnh phúc. (Nhưng theo tài liệu của GS Hoàng Xuân Hãn và ông Lê Xuân Giáo thì nữ sĩ có tới 3 đời chồng chứ không phải hai: Tổng Cóc, Ông Phủ Vĩnh – tường, và cuối cùng là quan Tham hiệp trấn Yên Quảng Trần Phúc Hiến).
Có thể thấy Hồ Xuân Hương không phải là một phụ nữ bình thường của thời phong kiến mà bà đã có một cuộc sống đầy sóng gió.
.

   Đề Đền Sầm Nghi Đống
Ghé mắt trông ngang thấy bảng treo,
Kìa đến thái thú đứng cheo leo.
Ví đây đổi phận làm trai được,
Thì sự anh hùng há bấy nhiêu!

Đề tranh Tố nữ

Hỏi bao nhiêu tuổi hỡ cô mình ?
Chị cũng xinh mà em cũng xinh
Đôi lứa như in tờ giấy trắng.
Nghìn năm còn mãi cái xuân xanh.
Xiếu mai chi dám tình trăng gió,
Bồ liễu thôi đành phận mỏng manh,
Còn thú vui kia sao chẳng vẽ,
Trách người thợ vẽ khéo vô tình.

 Xiều mai : ám chỉ người con gái đã lỡ thì

Đồng tiền hoẻn

Cũng lò cũng bễ cũng cùng than,
Mở mặt vuông tròn với thế gian.
Kém cạnh cho nên mang tiếng hoẻn,
Đủ đồng ắt cũng đáng nên quan.

    Động Hương Tích

Bày đặt kìa ai khéo khéo phòm
Nứt ra một lỗ hỏm hòm hòm.
Người quen cõi Phật chen chân xọc,
Kẻ lạ bầu tiên mỏi mắt dòm.
Giọt nước hữu tình rơi thánh thót,
Con thuyền vô trạo cúi lom khom.
Lâm tuyền quyến cả phồn hoa lại,
Rõ khéo trời già đến dở dom.


     Đá ông chồng bà chồng

Khéo khéo bày trò tạo hoá công,
Ông Chồng đã vậy lại Bà Chồng.
Tầng trên tuyết điểm phơ đầu bạc,
Thớt dưới sương pha đượm má hồng.
Gan nghĩa dãi ra cùng nhật nguyệt,
Khối tình cọ mãi với non sông.
Đá kia còn biết xuân già giặn,
Chả trách người ta lúc trẻ trung.

          Đánh đu
 
Bốn cột khen ai khéo khéo trồng,
Người thì lên đánh kẻ ngồi trông,
Trai đu gối hạc khom khom cật
Gái uốn lưng ong ngửa ngửa lòng.
Bốn mảnh quần hồng bay phấp phới,
Hai hàng chân ngọc duỗi song song.
Chơi xuân có biết xuân chăng tá.
Cọc nhổ đi rồi, lỗ bỏ không!

           Đánh cờ

Chàng với thiếp đêm khuya trằn trọc,
Ðét đồn lên đánh cuộc cờ người.
Hẹn rằng đấu trí mà chơi,
Cấm ngoại thuỷ không ai được biết.
Nào tướng sĩ dàn ra cho hết,
Ðể đôi ta quyết liệt một phen.
Quân thiếp trắng, quân chàng đen,
Hai quân ấy chơi nhau đà đã lửa.
Thoạt mới vào chàng liền nhảy ngựa,
Thiếp vội vàng vén phứa tịnh lên.
Hai xe hà, chàng gác hai bên,
Thiếp thấy bí, thiếp liền ghểnh sĩ.
Chàng lừa thiếp đương khi bất ý,
Ðem tốt đầu dú dí vô cung,
Thiếp đang mắc nước xe lồng,
Nước pháo đã nổ đùng ra chiếu.
Chàng bảo chịu, thiếp rằng chẳng chịu,
Thua thì thua quyết níu lấy con.
Khi vui nước nước non non,
Khi buồn lại giở bàn son quân ngà.

         Đèo Ba Dội

Một đèo, một đèo, lại một đèo,
Khen ai khéo tạc cảnh cheo leo.
Cửa con đỏ loét tùm hum nóc,
Hòn đá xanh rì lún phún rêu.
Lắt lẻo cành thông cơn gió thốc,
Đầm đìa lá liễu giọt sương gieo.
Hiền nhân quân tử ai là chẳng
Mỏi gối chồn chân vẫ muốn trèo.

Đèo Ba Dội hay Ba đèo tên chữ là đèo Tam Điệp, thuộc huyện Tống Sơn, tỉnh Thanh Hoá. Không phải Đèo Ngang như có sách đã nhầm

Bánh trôi nước 
   
Thân em vừa trắng lại vừa tròn,
Bảy nổi ba chìm với nước non.
Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn
Mà em vẫn giữ tấm lòng son.
          Cảnh thu

Thánh thót tầu tiêu mấy giọt mưa,
Bút thần khôn vẽ cảnh tiếu sơ,
Xanh om cổ thụ tròn xoe tán,
Trắng xoá tràng giang phẳng lặng tờ.
Bầu dốc giang sơn say chấp rượu,
Túi lưng phong nguyệt nặng vì thơ
Cho hay cảnh cũng ưa người nhỉ,
Thấy cảnh ai mà chẳng ngẩn ngơ.

      Chợ trời

Khen thay con Tạo khéo trêu ngươi.
Bày đặt ra nên cảnh chợ trời!
Buổi sớm gió đưa, trưa nắng đứng,
Ban chiều mây họp, tối trăng chơi.
Bầy hàng hoa quả tư mùa sẵn,
Mở phố giang sơn bốn mặt ngồi.
Bán lợi, buôn danh nào những kẻ,
Chẳng nên mặc cả một đôi lời.
        Chùa Quán Sứ
 
Quán Sứ sao mà cảnh vắng teo
Hỏi thăm sư cụ đáo nơi neo?
Chày kình, tiểu để xuông không đấm,
Tràng hạt, vãi lần đếm lại đeo.
Sáng banh không kẻ khua tang mít,
Trưa trật nào ai móc kẽ rêu.
Cha kiếp đường tu sao lắt léo
Cảnh buồn thêm ngán nợ tình đeo!
   Chùa xưa
Thày tớ thung dung dạo cảnh chùa,
Thơ thì lưng túi, rượu lưng hồ.
Cá khe lắng kệ, mang nghi ngóp,
Chim núi nghe kinh, cổ gật gù.
Then cửa từ bi chen chật cánh,
Nén hương tế độ cắm đầy lô.
Nam mô khẽ hỏi nhà sư tí,
Phúc đức như ông được mấy bồ ?
     Chơi đền Khán Xuân
   
Êm ái chiều xuân tới Khán đài,
Lâng lâng chẳng bợn chút trần ai!
Ba hồi triêu mộ chuông gầm sóng,
Một vững tang thương nước lộn trời.
Bể ái nghìn trùng khôn tát cạn,
Nguồn ân muôn trượng dễ khơi vơi.
Nào nào cực lạc là đâu tá,
Cực lạc là đây chín rõ mười.

Bà Huyện Thanh Quan

Tên thật là : Nguyễn Thị Hinh
Nữ thi sĩ, thường được gọi theo chức vụ của chồng là Bà Huyện Thanh Quan, không rõ năm sinh, năm mất.
Người ta chỉ biết bà là ái nữ của một vị danh Nho, sinh quán tại làng Nghi Tàm, huyện Thọ Xương (nay là Hoàn Long, tỉnh Hà Đông).  Bà lập gia đình với ông Lưu Nghị, tự là Lưu Nguyên Uẩn, người làng Nguyệt Áng, huyện Thanh Trì, tỉnh Hà Đông, đỗ cử nhân khoa Tân Tỵ, năm Minh Mạng thứ hai, được bổ làm tri huyện Thanh Quan. Do đó nữ sĩ được gọi là Bà huyện Thanh Quan hay Bà Thanh Quan.


Chồng bà mất sớm, năm ông 43 tuổi, bà vẫn ở vậy nuôi con.
Đời vua Minh Mạng bà được mời vào làm Cung Trung giáo tập, dạy các cung phi và công chúa.
Thơ bà điêu luyện, hàm súc, hiện còn một ít bài được truyền tụng và được xem là một trong những nhà thơ nữ nổi tiếng trong thời cận đại của lịch sử văn học Việt Nam. Với các bài Đèo Ngang, Thăng Long thành hoài cổ, Chiều hôm nhớ nhà.

   Do là nữ nhân nên các tác phẩm của bà hiện nay chỉ còn 7 tác phẩm . Đa số bị thất truyền . Vua Tự Đức cũng rất thích những tác phẩm của bà .

       Đền Trấn Vũ

Êm ái chiều xuân tới Trấn đài
Lâng lâng chẳng bợn chút trần ai
Ba hồi chiêu mộ, chuông gầm sóng
Một vũng tang thương, nước lộn trời
Bể ái ngàn trùng khôn tát cạn
Nguồn ân trăm trượng dễ khơi vơi
Nào nào cực lạc là đâu tá
Cực lạc là đây, chín rõ mười.


         Cảnh chiều hôm   
Chiều trời bảng lảng bóng hoàng hôn,
Tiếng ốc xa đưa vẳng trống đồn.
Gác mái, ngư ông về viễn phố,
Gõ sừng, mục tử lại cô thôn.
Ngàn mai gió cuốn chim bay mỏi,
Dặm liễu sương sa khách bước dồn.
Kẻ chốn Chương Đài, người lữ thứ,
Lấy ai mà kể nỗi hàn ôn ?


        Cảnh thu
Thánh thót tàu tiêu mấy hạt mưa
Khen ai khéo vẽ cảnh tiêu sơ
Xanh um cổ thụ tròn xoe tán
Trắng xoá tràng giang phẳng lặng tờ
Bầu dốc giang sơn, say chấp rượu
Túi lưng phong nguyệt, nặng vì thơ
Cho hay cảnh cũng ưa người nhỉ
Thấy cảnh ai mà chẳng ngẩn ngơ.



        Chùa Trấn Bắc  
Trấn Bắc hành cung cỏ dãi dầu
Ai đi qua đó chạnh niềm đau
Mấy toà sen rớt mùi hương ngự
Năm thức mây phong nếp áo chầu
Sóng lớp phế hưng coi đã rộn
Chuông hồi kim cổ lắng càng mau
Người xưa cảnh cũ nào đâu tá
Khéo ngẩn ngơ thay lũ trọc đầu


      Chiều hôm nhớ nhà
Vàng toả non Tây bóng ác tà
Đầm đầm ngọn cỏ tuyết phun hoa
Ngàn mai lác đác, chim về tổ
Dặm liễu bâng khuâng, khách nhớ nhà
Còi mục gác trăng miền khoáng dã
Chài ngư tung gió bãi bình sa
Lòng quê một bước dường ngao ngán
Mấy kẻ chung tình có thấy là ?


    Qua đèo Ngang
  
Bước tới đèo Ngang bóng xế tà,
Cỏ cây chen lá ,đá chen hoa.
Lom khom dưới núi tiều vài chú,
Lác đác bên sông chợ mấy nhà.
Nhớ nước đau lòng con cuốc cuốc,
Thương nhà mỏi miệng cái da da.
Dừng chân đứng lại trời non nước,
Một mảnh tình riêng ta với ta.

 
        Thăng Long Hoài cổ
  
Tạo hoá gây chi cuộc hý trường,
Đến nay thấm thoắt mấy tinh sương.
Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo,
Nền cũ lâu đài bóng tịch dương.
Đá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt,
Nước còn cau mặt với tang thương.
Nghìn năm gương cũ soi kim cổ,
Cảnh đấy người đây luống đoạn trường.

Cao Bá Quát

Cao Bá Quát


(Kỷ Tỵ 1809-Giáp Dần 1854)

Danh sĩ đời Tự Đức, tư Chu Thần, hiệu Cúc Đường, biệt hiệu Mẫn Hiên, quê làng Phú Thị, huyện Gia Lâm, xứ Kinh Bắc, tức tỉnh Bắc Ninh (nay thuộc xã Quyết Chiến, huyện Gia Lâm, ngoại thành Hà Nội).

Ông là em sinh đôi với Cao Bá Đạt, nổi tiếng văn chương đương thời. Tổ xa đời là Cao Bá Hiền làn đến Thượng thư bộ Binh đời hậu Lê, cha là Cao Cửu Chiếu, cũng là bậc tài danh đương thời.

Năm Tân Mão 1831, ông 22 tuổi, đậu á nguyên trường thi Hà Nội. Nhưng thi Hội 2 phen đều bị đánh hỏng, ông không buồn thi cử nữa, ngao du non nước.

Năm Tân Sửu 1841, quan đầu tỉnh Bắc Ninh đề cử ông với triều đình, ông được triệu vào kinh sung chức Hanh tẩu bộ Lễ. ít lâu, được cử chấm thi ở trường hương Thừa Thiên, ông và bạn đồng sự là Phan Nhạ chữa một ít quyển văn hay mà phạm húy, toan cứu vớt người tài. Việc bị phát giác. Giám sát trường thi là Hồ Trọng Tuấn đàn hặc, ông bị kết vào tội chết. Nhưng Thiệu Trị giảm tội cho ông, chỉ cách chức và phát phối vào Đà Nẵng.

Gặp khi có sứ bộ Đào Trí Phú sang Tân Gia Ba công cán, ông được tha cho rời khỏi phối sở, theo sứ đi lập công chuộc tội. Xong việc trở về, ông được phục chức cũ, rồi thăng làm chủ sự.

Năm Giáp Dần 1854, ông phải đổi lên Sơn Tây, làm Giáo thọ ở phủ Quốc Oai. ông buồn chán, phẫn chí bỏ quan theo làm quân sư cho Lê Duy Cự chống lại triều đình. Việc khởi nghĩa ở Mĩ Lương thất bại, ông bị bắt và bị hành quyết cùng với 2 con là Cao Bá Phùng và Cao Bá Phong năm ông 45 tuổi. Anh ông là Bá Đạt cũng bị liên lụy. (Về cái chết của ông, sách Đại Nam thực lực chính biên chép rằng: viên suất đội Đinh Thế Quang bắn ông chết trong trận đánh nhau. Nhưng nhiều sách khác thì chép như trên).

Ông còn để lại đời bộ sách Chu thần chi tập. Thơ văm ông dù bằng chữ Hán hoặc quốc âm đều hay.

Những bài ca trù của ông cũng xuất sắc. Đặc biệt bài phú Tài tử đa cùng, chỉ riêng một bài này thôi cũng đủ nêu cao tên tuổi ông với văn học nước nhà.

Khi ông mất mới 45 tuổi, bạn ông là Phương Đình Nguyễn Văn Siêu có bài thơ truy điệu ông rất thâm trầm:

"Duy biên thư sử, bích thiên cầm,
Nhất mộng du du, nhất hảo âm.
Sơn hải di tang hà sứ ẩn
Hương quan li hận thử hồi thâm!
Văn chương hữu mạng tương chung thủy
Thanh khí đồng bi tự cổ câm (kim)
Ngô đạo vị kham phân hiển hối, âu y kì nãi sĩ lưu tâm

Bản dịch:

Đàn còn bên vách, sách bên màn
Một giấc nghìn thu bặt tiếng vang.
Điên đảo non sông nhòa lối cũ,
âm thầm đất nước ngấm bi thương.
Duyên văn đã kết đây cùng đó,
Nghĩa cũ dù ai nhớ chẳng buồn!
Đạo học tỏ mờ chưa dễ biết
Cửa người khép nép mãi sao đương.

Tác phẩm của ông sau này được sưu tầm và khắc in là Cao Chu Thần thi văn tập.

***

Thơ Việt Cổ Điển : Thi Hào Cao Bá Quát
Riêng tặng B.S. J. Nguyễn Hiếu Liêm

Mục đích bài biên soạn ngắn nầy là để nhắc lại văn tài đặc sắc của một thi sĩ cổ điển Việt Nam trong một bối cảnh lịch sử xô-bồ của nuớc Việt lúc giao thời. Nếu trong những công trình khảo cứu văn chuơng Anh Pháp có những sự tìm tòi nghiên cứu về văn thơ cổ điển La tinh và Hy lạp, trong khuôn khổ nghiên cứu văn học Việt nam sự tái khám phá những tác phẩm giá trị thi ca Hán-Việt của những thế kỷ truớc cũng hào hứng và có thể bổ ích cho những công trình sáng tạo mới của nền thi ca Việt nam hiện đại.
Trong kho tàng thơ văn Việt nam cổ điển, ngoài thi hào nổi tiếng Nguyễn Du với tác phẩm bất hủ thơ Nôm Thúy Kiều, chúng ta còn có thi hào Cao Bá Quát với những bài Ca Trù và thơ Hán-Việt đặc sắc của ông.
Cao Bá Quát, hiệu là Chu Thần, sinh năm 1809, mất năm 1854; quê làng Phú Thị, huyện Gia Lâm, tỉnh Bắc Ninh (Bắc Việt).
Ông đậu Cử nhân và đuợc bổ làm Giáo Thọ ở Phủ Quốc Oai. Vì bất mãn với chế độ thời bấy giờ nên ông theo giúp Lê Duy Cự nổi loạn chống lại Triều Đình năm 1854. Mưu sự thất bại ông bị bắt và xữ tử.
Trong lãnh vực văn chuơng cổ điển Việt Nam ông đuợc xem là một thiên tài. Vua Tự Đức đã khen tặng ông rằng: “Văn như Siêu, Quát vô Tiền Hán…”. Dân gian ưa thích thơ văn của ông đến độ tôn sùng ông là “Thánh Quát.”
Phát xuất từ một cảm quan sâu sắc và một hồn thơ tinh tế, thơ của ông rất hàm súc với một lối nhìn và diễn tả độc đáo, khác với đa số thơ văn biền ngẫu đầy điển tích đuợc ưa chuộng thời bấy giờ. Vì truớc đây đã có rất nhiều sách vở và tài liệu văn học trình bày về thi ca Nôm của Cao Bá Quát rồi, nên trong bài nầy tôi chỉ xin giới thiệu một số thơ Hán-Việt của ông mà thôi.
Đọc thơ Nôm hay Hán-Việt của Cao Bá Quát nguời ta phải công nhận nét hành văn tả chân đặc biệt của ông vì nó nói lên đuợc những rung động tinh tế của một tâm hồn đa cảm và chung tình; những nỗi niềm riêng tư, thầm kín, chân thành – một đặc điểm chỉ thịnh hành trong thi ca Việt hiện đại với phong trào thơ mới.  Một điểm khác là trong những bài thơ Hán-Việt của ông là tuy xử dụng chữ Hán – loại văn tự hầu như chính thức trong văn chuơng bác học Việt nam so với chữ Nôm phổ thông trong thi ca dân gian vào thời đó – nhưng ông lại sính dùng điệp ngữ Hán-Việt, chẳng hạn như : trùng-trùng, hạo-hạo, dạ-dạ, phi-phi, du-du, thu-thu, phiếm-phiếm, âm-âm, tức-tức, lạc-lạc, … Sự lựa chọn từ ngữ độc đáo nầy làm cho lời thơ ông có một nhịp điệu và âm huởng đặc biệt gần gũi với tiếng Việt ròng, do đó thơ Hán-Việt của ông có một sắc thái nhịp nhàng, dồi dào nhạc tính, truyền đạt đuợc nhiều ấn tuợng thi vị đặc sắc, có lúc nhẹ nhàng, bóng bẫy, có lúc sắc bén, thâm trầm, thấm đuợm đặc tính thi ca Việt thuờng chỉ có thể tìm thấy trong văn thơ Nôm thuần túy mà thôi.
Trong khuôn khổ ngắn ngủi của bài giới thiệu nầy – và cũng để tránh sự nhàm chán cho các độc giả ít quen thuộc với thơ cổ điển Hán-Việt của thế kỹ truớc - trong số hơn trăm bài thơ Hán-Việt của thi sĩ họ Cao đã để lại tôi chỉ chọn và phỏng dịch 12 bài sau đây mà tôi cho rằng có thể tiêu biểu cho những cảm xúc riêng tư của tác giả, nỗi nhớ quê huơng và gia đình thân yêu khi tha huơng đối bóng, nỗi buồn thấm thía, chán chuờng của sự thất bại trong sự nghiệp, nỗi đau xót ngậm ngùi lúc trở về làng cũ, những tình cảm sâu đậm giữa bạn bè tri kỹ, cũng như những cảm giác mới mẻ lúc công du hải ngoại. Với nỗi buồn bàng bạc đây đó qua thơ của ông chúng ta cũng không khỏi thấm thía buồn lây với nỗi thất vọng ngỡ ngàng, chua chát về cuộc sống “phù danh” của buổi giao thời mà ông đã chứng kiến trong cuộc đời bất-đắc-chí của ông và chính ông đã gói ghém nó trong 2 câu hát nói đắng cay:
         Ba vạn sáu ngàn ngày là mấy
         Cảnh phù du trông thấy cũng nực cuời…
Trong những bài dịch từ Hán văn ra Việt văn dịch giả Lý Lãng Nhân cố gắng diễn dịch bằng thể thơ lục-bát 6/8 – một thể thơ thuần túy Việt nam, để nhại lại tiếng ru êm đềm của thi ca Việt chảy trong huyết quãn nguời Việt, như một âm vang thân thiết tiềm ẫn mãi trong tâm hồn kẻ ly huơng. Tuy nhiên vì sự dị biệt giữa hai ngôn ngữ Hán Việt nếu có một vài chỗ phải dịch thoát ý, hay phải rút ngắn tựa bài thơ cho dễ nhớ, thì đó là truờng hợp bất khả kháng, ngoài ý muốn của dịch giả.
Madison, AL., tháng 01, năm 2004

Nhật Tảo Quá Hương Giang
Vạn chướng như bôn nhiễu lục điền
Trường giang như kiếm lập thanh thiên
Sổ hàng ngư đĩnh liên thanh trạo
Lưỡng cá sa cầm khuất túc miên
Trần lộ du du song quyện nhãn
Viễn tình hạo hạo nhất qui tiên
Kiều đầu xa mã phi ngô sự
Phả ái nam phong giác chẩm biền.



Sáng Qua Sông Hương
Núi xa lẫn trốn ruộng xanh
Sông dài như kiếm long lanh cuối trời
Thuyền chài vẳng tiếng hò lơi
Cò đôi co cẳng im hơi ngủ ngày
Mắt mòn hun hút đường dài
Tình quê roi vút cảm hoài xót xa
Đầu cầu xe ngựa phồn hoa
Gió nam tỉnh giấc hồn ta mộng gì.




Ðáo Gia
Song mấn tiêu tiêu bất tự tri
Hương thôn chỉ điểm thị qui kỳ
Mộc miên điếm lý sương thu tảo
Thiên mã hồ biên nhật thướng trì
Lân hữu hốt phùng kinh sác vấn
Mẫu thân sạ kiến hỉ giao bi
Bình sinh đa nạn kim trường hối
Úy hướng gia nhân ngữ biệt ly.


Về Mái Nhà Xưa
 Hoa râm mái tóc chẳng ngờ
Trở về làng cũ thẩn thờ bước chân
Đồn xưa cây cũ sương giăng
Hồ im nắng gội ngày xanh biếng về
Hỏi chào hàng xóm e dè
Mẹ già mừng tủi con về hôm ni
Cuộc đời hoạn nạn sầu bi
Nhắc chi hai chử biệt ly não nề.



Trệ Vũ Dạ
Tế vũ phi phi dạ bế môn
Cô đăng minh diệt tiểu vô ngôn
Thiên biên chinh khách khuê trung phụ
Hà xứ tương tư bất đoạn hồn.


Đêm Mưa Dầm
Mưa đêm lất phất cửa gài
Đèn chong một ngọn nỗi nầy nói chi
Người chinh phụ, kẻ biên thùy
Tương tư hồn đoạn khác gì hỡi ai.




Vọng Phu Thạch
Độc lập sơn đầu đệ nhất phong
Chu điêu phấn tạ vị thùy dung
Âm thư cửu đoạn nhân hà xứ
Thiên hải vô nhai lộ kỷ trùng
Huyết lệ yên hòa minh nguyệt thấp
Hương hoàn vân tích lục đài phong
Thiên hoang địa lão tình do tạc
Dạ dạ xao tàn bích đỗng chung.


Hòn Vọng Phu
Đầu non đá tạc hình hài
Son phai phấn nhạt vì ai ngóng chờ
Nguời đi xa xứ vắng thơ
Biển trời cách biệt mịt mờ nước non
Máu hòa lệ khói trăng tròn
Mây giăng tóc phũ rêu còn rũ xanh
Trời già đất cổi chung tình
Đêm đêm vẳng tiếng chuông rền động xa.




Thu Dạ Ðộc Tọa
Minh nguyệt nhập tiền hiên
Cô ảnh khuy thanh tôn
U nhân ái dạ tọa
Tương đối diệc vong ngôn
Khởi lập miện không vũ
Nhân chi thiệp nhàn viên
Tức tức hầu trùng ngữ
Thu thu giang điễu huyên
Minh cư đạm độc thích
U thưởng diệu tự luân
Bạc chước sấn lương dạ
Úy ngã cơ lưu hồn.


Đêm Thu Một Mình
Ánh trăng chênh chếch qua hiên
Đêm thanh một bóng nghiêng nghiêng ảnh sầu
Nguời buồn vốn thích đêm thâu
Ngồi im đối bóng lặng sâu không lời
Trời cao chẳng chút mưa rơi
Nguời nhàn tản bước dạo chơi cuối vườn
Nỉ non trùng dế gọi hờn
Bên sông chim hót giọng còn thiết tha
Đêm dài duy chỉ mình ta
Người quen cảnh vắng phôi pha nỗi buồn
Đêm thanh an ủi mộng hồn
Chén hoa xóa nỗi cô đơn ít nhiều.



Thành Vị Giã Ca
Cộng thán tương phùng vãn
Tương phùng thị khách trung
Quản huyền kim dạ nguyệt
Hương quốc kỷ thu phong
Lệ tận tôn nhưng lục
Tâm hôi chúc tự hồng
Cựu du phương lạc lạc
Nhất khúc mạc từ chung.


Người Ca Sĩ Thành Vị
Gặp nhau biết mấy thở than
Nhìn nhau đất khách can tràng đổi trao
Đêm trăng đàn sáo quyện nhau
Quê xưa cách mấy thu nào nhớ chăng
Lệ rơi thấm ướt áo xanh
Tim ai đau xót đuốc dành bóng đêm
Phương trời bạn cũ xa xăm
Khúc ca tiếc với tri âm làm gì.



Thăng Long Cựu Kinh Cảm Tác
Đệ nhất phồn hoa thử cựu kinh
Nùng sơn Nhị thủy tối cao thanh
Thiên niên thành quách không kim cổ
Thập lý nha phường lão tử sinh
Hàn thực hầu gia yên sắc đạm
Hương phong tửu điếm liễu hoa minh
Bất kham phiếm đĩnh Tây hồ nguyệt
Cố quốc tà dương địch sổ thanh.


Thăng Long Cảm Xúc
Phồn hoa đây chốn cựu thành
Núi Nùng, Sông Nhị lưu danh nhất đời
Ngàn năm thành quách chẳng dời
Mười phường phố đó bao đời tử sinh
Lầu trang Tiết lạnh khói yên
Hương bay quán rượu liễu xinh hoa cười
Hồ Tây thuyền dạo trăng soi
Quê xưa tiếng sáo chiều rơi bóng tà.



Giả Biệt Gia Nhân
Vong tình tự tiếu ngã hà năng
Ai lạc niên lai tiệm bất thăng
Nại biệt hữu giam tàng cựu kính
Công sầu vô ảnh bạn cô đăng
Chẩm biên hương mộng tam canh viễn
Cân lý sương mao nhất dạ tăng
Thủy niệm xuân hàn trung lộ khách
Ngưu y lang tạ lệ thành băng.


Từ Biệt Người Nhà
Vong tình luống thẹn cho mình
Buồn vui thôi đã lỗi tình với ai
Gương xưa còn cất giữ đây
Đèn khuya một ngọn sầu tây vô hình
Phương trời canh vắng một mình
Sương đêm dầy dặc nặng tình cố hương
Nhớ khi đất khách xuân tàn
Lệ rơi thấm áo ngự hàn giá băng.



Châu Trung Cảm Tác
Nhất bích ngưng vi giới
Trùng vân nhiễu tác thành
Viễn phong xung hải lập
Cao Lãng tiếp thiên bình
Hương quốc tam xuân ý
Kiền khôn vạn lý tình
Đã lâu tần bắc vọng
Độc kiến tảo yên hoành.


Trên Thuyền Cảm Tác
Trời xanh nước biếc một làn
Mây đùn giăng phủ như thành mới xây
Triều dâng sóng dựng vờn mây
Núi xa xa thẵm biển đầy nước cao
Ba xuân cách biệt quê nào
Đất trời muôn dặm tình sao hững hờ
Lầu thuyền xa ngóng thẩn thờ
Khói mây hướng Bắc mịt mờ sương mai.



Ký Hữu Phương Đình
Thập niên ác bút phí quang âm
Đồ bão tiên ưu hậu lạc tâm
Thân sự dữ vân tranh tụ tán
Thế cơ như thủy trục thăng trầm
Cố viên cúc tĩnh thu ưng trưởng
Tiểu các mai hàn dạ độc ngâm
Tự tiếu đa tình tiêu vi đắc
Phù danh hoàn khước ngộ tri âm.


Gửi Bạn Phương Đình
Mười năm cầm bút uổng công
Vui sau lo trước còn trông ngóng gì
Thân như mây tụ tán đi
Đời như con nước theo thì thấp cao
Vườn xưa cúc nở thu nào
Xuân nay gác vắng mai chào tiếng ngâm
Nực cười thói cũ đa tình
Phù danh thẹn gặp tri âm bấy chầy.



Tự Quân Chi Xuất Hĩ
Tự quân chi xuất hĩ
Dạ dạ thủ không sàng
Hãi nguyệt chiếu cô mộng
Giang phong sinh mộ lương
Tiểu kính ký viễn thiếp
Hàn y lưu cô phòng
Trì thủ các tự úy
Bất khiến luợng tương vong.


Từ Ngày Anh Ra Đi
Từ ngày anh bước chân đi
Ðêm đêm hiu quạnh giường kia lạnh lùng
Trăng soi mộng lẽ canh trường
Gió qua bến lạnh chiều sương gợi sầu
Gương soi anh nhớ hình nhau
Phòng xưa áo lạnh em nào lãng quên
Ấp yêu kỹ niệm êm đềm
Tháng năm đâu có nhạt tình nhớ thương.



Hạ Châu Hành Tức Sự
Lâu các trùng trùng giáp thủy tân
Tùng âm lương xứ dị hoa xuân
Thiết ly vô tõa qui xa nhập
Cá cá ô nhân ngữ bạch nhân.


Bài Thơ Hạ Châu
Ven bờ lầu phố chập chùng
Hoa xinh nở dưới bóng tùng rợp cao
Mở tung cổng sắt xe vào
Hầu nguời da trắng toàn nào da đen. 



 ****

Dạ quan thanh nhân diễn kịch trường

Liệt cự thôi minh tối thượng đàn
Nhất thanh hám khởi dạ phong hàn
Kích tu tráng sĩ phương hoành giáp
Nô mục tướng quân dĩ cứ an
Xuất thế khởi vô chân diện mục
Phùng trường lãng tiếu cổ y quan?
Hổ Môn (1) cận sự quân tri phủ
Thán tức hà nhân ủng tị khan!


Cao Bá Quát

Dịch Nghĩa
(1) Hổ Môn: Tác giả nói về trận quân đội Anh đánh thắng Mãn Thanh ở Hổ Môn trong cuộc chiến tranh nha phiến năm 1840.

Bài này phải được sáng tác sau năm 1840. Tác giả dùng hình ảnh một buổi diễn kịch để nói lên thực trạng xã hội lúc bấy giờ. Vua quan chỉ như những đào kép trên tuồng mà không biết thực trạng của đất nước ra sao!



Dịch Thơ
Đêm xem người Thanh diễn kịch

Trên sân khấu sáng choang đèn đuốc
Tiếng thét vang gió buốt đêm trường
Áo râu tráng sĩ cương trường
Tướng công chễm chệ bừng bừng mắt đao
Bộ mặt thực lẽ nào không có
Mà vui trò mũ áo xa xưa?
Hổ Môn nhục mới biết chưa?
Mà còn nghếch mũi say sưa xem tuồng!

Bản dịch: Tường Vũ Anh Thy


 Dương phụ hành


Tây dương thiếu phụ y như tuyết
Độc băng lang kiên tọa thanh nguyệt
Khước vọng Nam thuyền đăng hỏa minh
Bả duệ nam nam hướng lang thuyết
Nhất uyển đề hồ thủ lãn trì
Dạ hàn vô ná hải phong xuy
Phiên thân cánh thiến lang phù khởi
Khởi thức Nam nhân hữu biệt ly

Cao Bá Quát

Dịch Nghĩa

Bài này Cao Bá Quát làm trong thời gian ông đi quân thứ chuộc tội ở Mã Lai và Singapore.

Dịch Thơ
Bài hành người đàn bà phương Tây

Áo thiếu phụ trắng phau như tuyết
Tựa vai chồng trăng biếc đêm say
Ánh đèn thuyền Việt lung lay
Liếc sang ríu rít nàng lay gọi chồng
Chén sữa ngọt tay hồng uể oải
Gió căm căm biển phải rùng mình
Nàng đòi chồng đỡ thân mình
Bỗng ta trơ trọi trong tình biệt ly.

Bản dịch: Tường Vũ Anh Thy


Tức sự

Nhãn khan cao điểu lộc phàn lung
Tự ỷ thằng sàng bất ngữ trung
Ngũ dạ tâm tình đăng đối ảnh
Nhất thu cảnh vật vũ giao phong
Mộng hồi thành khuyết hồn nghi khách
Lệ sái hành dương huyết bính không
Cách xá hà nhân ngâm giải tụng
Lũ tương văn tự vấn cơ ông

Cao Bá Quát

Dịch Nghĩa
Bài thơ này tương truyền Cao Bá Quát làm trong lúc đang ở tù vì tội sửa bài thí sinh.

Dịch Thơ
Tức sự

Cánh chim bay giữa trời nhốt gió
Võng một mình nhốt gió cùng ai?
Thâu đêm chiếc bóng miệt mài
Mưa thu hiu hắt cho dài nhớ thương
Mộng thành xưa ngỡ hồn vất vưởng
Gông với cùm lệ tưởng máu khô
Bạn tù chữ nghĩa vu vơ
Thường đem han hỏi cái thơ ông tù!

Bản dịch:Tường Vũ Anh Thy

Như chim bay giỏi nhốt chơ vơ,
Trên võng kề lưng, chẳng nói thưa.
Tâm sự canh chầy đèn với bóng,
Cảnh tình thu trọn gói trong mưa.
Mộng về thành khuyết hồn đâu tá?
Lệ rỏ gông cùm máu uổng chưa?
Ai đó cách nhà ngâm vịnh được,
Kẻ tù thường đến hỏi văn thơ.

Bản dịch: Hoàng Trung Thông


Vị minh tiểu kệ đồng Phan sinh dạ tọa

Tuyển hữu mạc thủ khí
Thủ khí mê kỳ nhân
Vị minh mạc thác hoa
Thác hoa ly kỳ chân
Hiểu tỉnh cấp thanh tuyền
Tế thán lý tân hỏa
Vô yên giữ trần khí
Hối thủ nhất tiếu khả
Nhứ hương quý thanh chân
Bất dụng ngoại thước ngã
Vô dĩ nhất ác khan
Phóng nhĩ tỵ quan giả
Huyễn phục phi tráng nhan
Phồn âm biến đại nhã
Thí lưu nhất chuyễn ngữ
Tự tại chứng hiện quả

Cao Bá Quát

Dịch Nghĩa
Bài thơ này Cao Bá Quát làm nhân một dịp uống trà với Phan Nhạ, người cùng ông chấm thi ở trường thi Thừa Thiên. Trong lần chấm thi này, ông lấy muội đèn sửa bài của một số thí sinh. Công việc bại lộ, ông bị truy tố tội tử hình, sau đổi thành trảm giam hậu.

Dịch Thơ
Bài kệ uống trà làm trong khi ngồi khuya với Phan Nhạ

Người ta không kể bề ngoài
Bề ngoài diêm dúa sơ sài bên trong
Tựa như trà ướp hoa ong
Vị trà đã mất hương lòng mất theo
Sáng ngày giếng nước trong veo
Bỏ than thật nhỏ lò treo giữa lò
Nước sôi không khói không tro
Hai bàn tay sạch thơm tho khề khà
Uống trà cốt ở vị trà
nhiều hoa lắm lá hương trà sao thanh
Đừng vì của hiếm hư danh
Mà đem cái mũi tranh dành thực hư
Áo quần không tạo phong tư
Rườm rà cách điệu làm ngưng cung đàn
Hãy nghe câu kệ lời vàng
Đang là đang có, có là đang đang

Bản dịch: Tường Vũ Anh Thy

Điếu nội nhị thủ

I

Phụ vong tài bát nguyệt
Mẫu bệnh dĩ kinh tuần
Huống tử khuê trung phụ
Phục vị tuyền hạ nhân
Tử sinh hồn di biệt
Tân cựu lệ nan phân
Tạo vật cố vi giả
Du du thử nhất thân

II

Lệ kết băng hàn lệ vị tàn
La y huống phục lệ lan can
Phương tương bạch thủ kỳ giai lão
Ninh quán thanh thiên cự tác quan
Hoa lạc dĩ vô đăng hạ chiếu
Nguyệt minh duy hữu mộng trung khan
Thương quân bất cảm cao thanh khốc
Chỉ khủng quân tâm bất tự an


Cao Bá Quát

Dịch Thơ
Khóc vợ I

Cha mất chửa đầy năm,
Mẹ đau trải cả tuần
Tới giờ về chín suối
Lại chính bạn chung chăn
Sống thác hồn chia dễ
Trước sau lệ khó phân
Trời xanh sắp đặt thế
Mờ mịt tủi cho thân


Khóc vợ II

Lệ đọng thành băng lệ chửa tan
Áo tơ lại đẫm lệ tuôn tràn
Mới vừa đầu bạc nguyền chung sống
Sao nỡ đầu xanh vội cách ngăn
Hoa rụng, ánh đèn nào chiếu sáng
Trăng soi hồn mộng mãi băn khoăn
Thương người không dám hờ to tiếng
Vì sợ lòng người chẳng được an.

Bản dịch: Đào Mộng Nam