(Kỷ Tỵ 1809-Giáp Dần 1854)
Danh sĩ đời Tự Đức, tư Chu Thần, hiệu Cúc Đường, biệt hiệu Mẫn Hiên, quê làng Phú Thị, huyện Gia Lâm, xứ Kinh Bắc, tức tỉnh Bắc Ninh (nay thuộc xã Quyết Chiến, huyện Gia Lâm, ngoại thành Hà Nội).
Ông là em sinh đôi với Cao Bá Đạt, nổi tiếng văn chương đương thời. Tổ xa đời là Cao Bá Hiền làn đến Thượng thư bộ Binh đời hậu Lê, cha là Cao Cửu Chiếu, cũng là bậc tài danh đương thời.
Năm Tân Mão 1831, ông 22 tuổi, đậu á nguyên trường thi Hà Nội. Nhưng thi Hội 2 phen đều bị đánh hỏng, ông không buồn thi cử nữa, ngao du non nước.
Năm Tân Sửu 1841, quan đầu tỉnh Bắc Ninh đề cử ông với triều đình, ông được triệu vào kinh sung chức Hanh tẩu bộ Lễ. ít lâu, được cử chấm thi ở trường hương Thừa Thiên, ông và bạn đồng sự là Phan Nhạ chữa một ít quyển văn hay mà phạm húy, toan cứu vớt người tài. Việc bị phát giác. Giám sát trường thi là Hồ Trọng Tuấn đàn hặc, ông bị kết vào tội chết. Nhưng Thiệu Trị giảm tội cho ông, chỉ cách chức và phát phối vào Đà Nẵng.
Gặp khi có sứ bộ Đào Trí Phú sang Tân Gia Ba công cán, ông được tha cho rời khỏi phối sở, theo sứ đi lập công chuộc tội. Xong việc trở về, ông được phục chức cũ, rồi thăng làm chủ sự.
Năm Giáp Dần 1854, ông phải đổi lên Sơn Tây, làm Giáo thọ ở phủ Quốc Oai. ông buồn chán, phẫn chí bỏ quan theo làm quân sư cho Lê Duy Cự chống lại triều đình. Việc khởi nghĩa ở Mĩ Lương thất bại, ông bị bắt và bị hành quyết cùng với 2 con là Cao Bá Phùng và Cao Bá Phong năm ông 45 tuổi. Anh ông là Bá Đạt cũng bị liên lụy. (Về cái chết của ông, sách Đại Nam thực lực chính biên chép rằng: viên suất đội Đinh Thế Quang bắn ông chết trong trận đánh nhau. Nhưng nhiều sách khác thì chép như trên).
Ông còn để lại đời bộ sách Chu thần chi tập. Thơ văm ông dù bằng chữ Hán hoặc quốc âm đều hay.
Những bài ca trù của ông cũng xuất sắc. Đặc biệt bài phú Tài tử đa cùng, chỉ riêng một bài này thôi cũng đủ nêu cao tên tuổi ông với văn học nước nhà.
Khi ông mất mới 45 tuổi, bạn ông là Phương Đình Nguyễn Văn Siêu có bài thơ truy điệu ông rất thâm trầm:
"Duy biên thư sử, bích thiên cầm,
Nhất mộng du du, nhất hảo âm.
Sơn hải di tang hà sứ ẩn
Hương quan li hận thử hồi thâm!
Văn chương hữu mạng tương chung thủy
Thanh khí đồng bi tự cổ câm (kim)
Ngô đạo vị kham phân hiển hối, âu y kì nãi sĩ lưu tâm
Bản dịch:
Đàn còn bên vách, sách bên màn
Một giấc nghìn thu bặt tiếng vang.
Điên đảo non sông nhòa lối cũ,
âm thầm đất nước ngấm bi thương.
Duyên văn đã kết đây cùng đó,
Nghĩa cũ dù ai nhớ chẳng buồn!
Đạo học tỏ mờ chưa dễ biết
Cửa người khép nép mãi sao đương.
Tác phẩm của ông sau này được sưu tầm và khắc in là Cao Chu Thần thi văn tập.
***
Thơ Việt Cổ Điển : Thi Hào Cao Bá Quát
Riêng tặng B.S. J. Nguyễn Hiếu Liêm Mục đích bài biên soạn ngắn nầy là để nhắc lại văn tài đặc sắc của một thi sĩ cổ điển Việt Nam trong một bối cảnh lịch sử xô-bồ của nuớc Việt lúc giao thời. Nếu trong những công trình khảo cứu văn chuơng Anh Pháp có những sự tìm tòi nghiên cứu về văn thơ cổ điển La tinh và Hy lạp, trong khuôn khổ nghiên cứu văn học Việt nam sự tái khám phá những tác phẩm giá trị thi ca Hán-Việt của những thế kỷ truớc cũng hào hứng và có thể bổ ích cho những công trình sáng tạo mới của nền thi ca Việt nam hiện đại.
Trong kho tàng thơ văn Việt nam cổ điển, ngoài thi hào nổi tiếng Nguyễn Du với tác phẩm bất hủ thơ Nôm Thúy Kiều, chúng ta còn có thi hào Cao Bá Quát với những bài Ca Trù và thơ Hán-Việt đặc sắc của ông.
Cao Bá Quát, hiệu là Chu Thần, sinh năm 1809, mất năm 1854; quê làng Phú Thị, huyện Gia Lâm, tỉnh Bắc Ninh (Bắc Việt).
Ông đậu Cử nhân và đuợc bổ làm Giáo Thọ ở Phủ Quốc Oai. Vì bất mãn với chế độ thời bấy giờ nên ông theo giúp Lê Duy Cự nổi loạn chống lại Triều Đình năm 1854. Mưu sự thất bại ông bị bắt và xữ tử.
Trong lãnh vực văn chuơng cổ điển Việt Nam ông đuợc xem là một thiên tài. Vua Tự Đức đã khen tặng ông rằng: “Văn như Siêu, Quát vô Tiền Hán…”. Dân gian ưa thích thơ văn của ông đến độ tôn sùng ông là “Thánh Quát.”
Phát xuất từ một cảm quan sâu sắc và một hồn thơ tinh tế, thơ của ông rất hàm súc với một lối nhìn và diễn tả độc đáo, khác với đa số thơ văn biền ngẫu đầy điển tích đuợc ưa chuộng thời bấy giờ. Vì truớc đây đã có rất nhiều sách vở và tài liệu văn học trình bày về thi ca Nôm của Cao Bá Quát rồi, nên trong bài nầy tôi chỉ xin giới thiệu một số thơ Hán-Việt của ông mà thôi.
Đọc thơ Nôm hay Hán-Việt của Cao Bá Quát nguời ta phải công nhận nét hành văn tả chân đặc biệt của ông vì nó nói lên đuợc những rung động tinh tế của một tâm hồn đa cảm và chung tình; những nỗi niềm riêng tư, thầm kín, chân thành – một đặc điểm chỉ thịnh hành trong thi ca Việt hiện đại với phong trào thơ mới. Một điểm khác là trong những bài thơ Hán-Việt của ông là tuy xử dụng chữ Hán – loại văn tự hầu như chính thức trong văn chuơng bác học Việt nam so với chữ Nôm phổ thông trong thi ca dân gian vào thời đó – nhưng ông lại sính dùng điệp ngữ Hán-Việt, chẳng hạn như : trùng-trùng, hạo-hạo, dạ-dạ, phi-phi, du-du, thu-thu, phiếm-phiếm, âm-âm, tức-tức, lạc-lạc, … Sự lựa chọn từ ngữ độc đáo nầy làm cho lời thơ ông có một nhịp điệu và âm huởng đặc biệt gần gũi với tiếng Việt ròng, do đó thơ Hán-Việt của ông có một sắc thái nhịp nhàng, dồi dào nhạc tính, truyền đạt đuợc nhiều ấn tuợng thi vị đặc sắc, có lúc nhẹ nhàng, bóng bẫy, có lúc sắc bén, thâm trầm, thấm đuợm đặc tính thi ca Việt thuờng chỉ có thể tìm thấy trong văn thơ Nôm thuần túy mà thôi.
Trong khuôn khổ ngắn ngủi của bài giới thiệu nầy – và cũng để tránh sự nhàm chán cho các độc giả ít quen thuộc với thơ cổ điển Hán-Việt của thế kỹ truớc - trong số hơn trăm bài thơ Hán-Việt của thi sĩ họ Cao đã để lại tôi chỉ chọn và phỏng dịch 12 bài sau đây mà tôi cho rằng có thể tiêu biểu cho những cảm xúc riêng tư của tác giả, nỗi nhớ quê huơng và gia đình thân yêu khi tha huơng đối bóng, nỗi buồn thấm thía, chán chuờng của sự thất bại trong sự nghiệp, nỗi đau xót ngậm ngùi lúc trở về làng cũ, những tình cảm sâu đậm giữa bạn bè tri kỹ, cũng như những cảm giác mới mẻ lúc công du hải ngoại. Với nỗi buồn bàng bạc đây đó qua thơ của ông chúng ta cũng không khỏi thấm thía buồn lây với nỗi thất vọng ngỡ ngàng, chua chát về cuộc sống “phù danh” của buổi giao thời mà ông đã chứng kiến trong cuộc đời bất-đắc-chí của ông và chính ông đã gói ghém nó trong 2 câu hát nói đắng cay:
Ba vạn sáu ngàn ngày là mấy
Cảnh phù du trông thấy cũng nực cuời…
Cảnh phù du trông thấy cũng nực cuời…
Trong những bài dịch từ Hán văn ra Việt văn dịch giả Lý Lãng Nhân cố gắng diễn dịch bằng thể thơ lục-bát 6/8 – một thể thơ thuần túy Việt nam, để nhại lại tiếng ru êm đềm của thi ca Việt chảy trong huyết quãn nguời Việt, như một âm vang thân thiết tiềm ẫn mãi trong tâm hồn kẻ ly huơng. Tuy nhiên vì sự dị biệt giữa hai ngôn ngữ Hán Việt nếu có một vài chỗ phải dịch thoát ý, hay phải rút ngắn tựa bài thơ cho dễ nhớ, thì đó là truờng hợp bất khả kháng, ngoài ý muốn của dịch giả.
Madison, AL., tháng 01, năm 2004
| Trường giang như kiếm lập thanh thiên Sổ hàng ngư đĩnh liên thanh trạo Lưỡng cá sa cầm khuất túc miên Trần lộ du du song quyện nhãn Viễn tình hạo hạo nhất qui tiên Kiều đầu xa mã phi ngô sự Phả ái nam phong giác chẩm biền. | Sông dài như kiếm long lanh cuối trời Thuyền chài vẳng tiếng hò lơi Cò đôi co cẳng im hơi ngủ ngày Mắt mòn hun hút đường dài Tình quê roi vút cảm hoài xót xa Đầu cầu xe ngựa phồn hoa Gió nam tỉnh giấc hồn ta mộng gì. |
| Hương thôn chỉ điểm thị qui kỳ Mộc miên điếm lý sương thu tảo Thiên mã hồ biên nhật thướng trì Lân hữu hốt phùng kinh sác vấn Mẫu thân sạ kiến hỉ giao bi Bình sinh đa nạn kim trường hối Úy hướng gia nhân ngữ biệt ly. | Trở về làng cũ thẩn thờ bước chân Đồn xưa cây cũ sương giăng Hồ im nắng gội ngày xanh biếng về Hỏi chào hàng xóm e dè Mẹ già mừng tủi con về hôm ni Cuộc đời hoạn nạn sầu bi Nhắc chi hai chử biệt ly não nề. |
| Cô đăng minh diệt tiểu vô ngôn Thiên biên chinh khách khuê trung phụ Hà xứ tương tư bất đoạn hồn. | Đèn chong một ngọn nỗi nầy nói chi Người chinh phụ, kẻ biên thùy Tương tư hồn đoạn khác gì hỡi ai. |
| Chu điêu phấn tạ vị thùy dung Âm thư cửu đoạn nhân hà xứ Thiên hải vô nhai lộ kỷ trùng Huyết lệ yên hòa minh nguyệt thấp Hương hoàn vân tích lục đài phong Thiên hoang địa lão tình do tạc Dạ dạ xao tàn bích đỗng chung. | Son phai phấn nhạt vì ai ngóng chờ Nguời đi xa xứ vắng thơ Biển trời cách biệt mịt mờ nước non Máu hòa lệ khói trăng tròn Mây giăng tóc phũ rêu còn rũ xanh Trời già đất cổi chung tình Đêm đêm vẳng tiếng chuông rền động xa. |
| Cô ảnh khuy thanh tôn U nhân ái dạ tọa Tương đối diệc vong ngôn Khởi lập miện không vũ Nhân chi thiệp nhàn viên Tức tức hầu trùng ngữ Thu thu giang điễu huyên Minh cư đạm độc thích U thưởng diệu tự luân Bạc chước sấn lương dạ Úy ngã cơ lưu hồn. | Đêm thanh một bóng nghiêng nghiêng ảnh sầu Nguời buồn vốn thích đêm thâu Ngồi im đối bóng lặng sâu không lời Trời cao chẳng chút mưa rơi Nguời nhàn tản bước dạo chơi cuối vườn Nỉ non trùng dế gọi hờn Bên sông chim hót giọng còn thiết tha Đêm dài duy chỉ mình ta Người quen cảnh vắng phôi pha nỗi buồn Đêm thanh an ủi mộng hồn Chén hoa xóa nỗi cô đơn ít nhiều. |
| Tương phùng thị khách trung Quản huyền kim dạ nguyệt Hương quốc kỷ thu phong Lệ tận tôn nhưng lục Tâm hôi chúc tự hồng Cựu du phương lạc lạc Nhất khúc mạc từ chung. | Nhìn nhau đất khách can tràng đổi trao Đêm trăng đàn sáo quyện nhau Quê xưa cách mấy thu nào nhớ chăng Lệ rơi thấm ướt áo xanh Tim ai đau xót đuốc dành bóng đêm Phương trời bạn cũ xa xăm Khúc ca tiếc với tri âm làm gì. |
| Nùng sơn Nhị thủy tối cao thanh Thiên niên thành quách không kim cổ Thập lý nha phường lão tử sinh Hàn thực hầu gia yên sắc đạm Hương phong tửu điếm liễu hoa minh Bất kham phiếm đĩnh Tây hồ nguyệt Cố quốc tà dương địch sổ thanh. | Núi Nùng, Sông Nhị lưu danh nhất đời Ngàn năm thành quách chẳng dời Mười phường phố đó bao đời tử sinh Lầu trang Tiết lạnh khói yên Hương bay quán rượu liễu xinh hoa cười Hồ Tây thuyền dạo trăng soi Quê xưa tiếng sáo chiều rơi bóng tà. |
| Ai lạc niên lai tiệm bất thăng Nại biệt hữu giam tàng cựu kính Công sầu vô ảnh bạn cô đăng Chẩm biên hương mộng tam canh viễn Cân lý sương mao nhất dạ tăng Thủy niệm xuân hàn trung lộ khách Ngưu y lang tạ lệ thành băng. | Buồn vui thôi đã lỗi tình với ai Gương xưa còn cất giữ đây Đèn khuya một ngọn sầu tây vô hình Phương trời canh vắng một mình Sương đêm dầy dặc nặng tình cố hương Nhớ khi đất khách xuân tàn Lệ rơi thấm áo ngự hàn giá băng. |
| Trùng vân nhiễu tác thành Viễn phong xung hải lập Cao Lãng tiếp thiên bình Hương quốc tam xuân ý Kiền khôn vạn lý tình Đã lâu tần bắc vọng Độc kiến tảo yên hoành. | Mây đùn giăng phủ như thành mới xây Triều dâng sóng dựng vờn mây Núi xa xa thẵm biển đầy nước cao Ba xuân cách biệt quê nào Đất trời muôn dặm tình sao hững hờ Lầu thuyền xa ngóng thẩn thờ Khói mây hướng Bắc mịt mờ sương mai. |
| Đồ bão tiên ưu hậu lạc tâm Thân sự dữ vân tranh tụ tán Thế cơ như thủy trục thăng trầm Cố viên cúc tĩnh thu ưng trưởng Tiểu các mai hàn dạ độc ngâm Tự tiếu đa tình tiêu vi đắc Phù danh hoàn khước ngộ tri âm. | Vui sau lo trước còn trông ngóng gì Thân như mây tụ tán đi Đời như con nước theo thì thấp cao Vườn xưa cúc nở thu nào Xuân nay gác vắng mai chào tiếng ngâm Nực cười thói cũ đa tình Phù danh thẹn gặp tri âm bấy chầy. |
| Dạ dạ thủ không sàng Hãi nguyệt chiếu cô mộng Giang phong sinh mộ lương Tiểu kính ký viễn thiếp Hàn y lưu cô phòng Trì thủ các tự úy Bất khiến luợng tương vong. | Ðêm đêm hiu quạnh giường kia lạnh lùng Trăng soi mộng lẽ canh trường Gió qua bến lạnh chiều sương gợi sầu Gương soi anh nhớ hình nhau Phòng xưa áo lạnh em nào lãng quên Ấp yêu kỹ niệm êm đềm Tháng năm đâu có nhạt tình nhớ thương. |
| Tùng âm lương xứ dị hoa xuân Thiết ly vô tõa qui xa nhập Cá cá ô nhân ngữ bạch nhân. | Hoa xinh nở dưới bóng tùng rợp cao Mở tung cổng sắt xe vào Hầu nguời da trắng toàn nào da đen. **** Dạ quan thanh nhân diễn kịch trường Liệt cự thôi minh tối thượng đàn Nhất thanh hám khởi dạ phong hàn Kích tu tráng sĩ phương hoành giáp Nô mục tướng quân dĩ cứ an Xuất thế khởi vô chân diện mục Phùng trường lãng tiếu cổ y quan? Hổ Môn (1) cận sự quân tri phủ Thán tức hà nhân ủng tị khan! Cao Bá Quát Dịch Nghĩa (1) Hổ Môn: Tác giả nói về trận quân đội Anh đánh thắng Mãn Thanh ở Hổ Môn trong cuộc chiến tranh nha phiến năm 1840. Bài này phải được sáng tác sau năm 1840. Tác giả dùng hình ảnh một buổi diễn kịch để nói lên thực trạng xã hội lúc bấy giờ. Vua quan chỉ như những đào kép trên tuồng mà không biết thực trạng của đất nước ra sao! Dịch Thơ Đêm xem người Thanh diễn kịch Trên sân khấu sáng choang đèn đuốc Tiếng thét vang gió buốt đêm trường Áo râu tráng sĩ cương trường Tướng công chễm chệ bừng bừng mắt đao Bộ mặt thực lẽ nào không có Mà vui trò mũ áo xa xưa? Hổ Môn nhục mới biết chưa? Mà còn nghếch mũi say sưa xem tuồng! Bản dịch: Tường Vũ Anh Thy Dương phụ hành Tây dương thiếu phụ y như tuyết Độc băng lang kiên tọa thanh nguyệt Khước vọng Nam thuyền đăng hỏa minh Bả duệ nam nam hướng lang thuyết Nhất uyển đề hồ thủ lãn trì Dạ hàn vô ná hải phong xuy Phiên thân cánh thiến lang phù khởi Khởi thức Nam nhân hữu biệt ly Cao Bá Quát Dịch Nghĩa Bài này Cao Bá Quát làm trong thời gian ông đi quân thứ chuộc tội ở Mã Lai và Singapore. Dịch Thơ Bài hành người đàn bà phương Tây Áo thiếu phụ trắng phau như tuyết Tựa vai chồng trăng biếc đêm say Ánh đèn thuyền Việt lung lay Liếc sang ríu rít nàng lay gọi chồng Chén sữa ngọt tay hồng uể oải Gió căm căm biển phải rùng mình Nàng đòi chồng đỡ thân mình Bỗng ta trơ trọi trong tình biệt ly. Bản dịch: Tường Vũ Anh Thy Tức sự Nhãn khan cao điểu lộc phàn lung Tự ỷ thằng sàng bất ngữ trung Ngũ dạ tâm tình đăng đối ảnh Nhất thu cảnh vật vũ giao phong Mộng hồi thành khuyết hồn nghi khách Lệ sái hành dương huyết bính không Cách xá hà nhân ngâm giải tụng Lũ tương văn tự vấn cơ ông Cao Bá Quát Dịch Nghĩa Bài thơ này tương truyền Cao Bá Quát làm trong lúc đang ở tù vì tội sửa bài thí sinh. Dịch Thơ Tức sự Cánh chim bay giữa trời nhốt gió Võng một mình nhốt gió cùng ai? Thâu đêm chiếc bóng miệt mài Mưa thu hiu hắt cho dài nhớ thương Mộng thành xưa ngỡ hồn vất vưởng Gông với cùm lệ tưởng máu khô Bạn tù chữ nghĩa vu vơ Thường đem han hỏi cái thơ ông tù! Bản dịch:Tường Vũ Anh Thy Như chim bay giỏi nhốt chơ vơ, Trên võng kề lưng, chẳng nói thưa. Tâm sự canh chầy đèn với bóng, Cảnh tình thu trọn gói trong mưa. Mộng về thành khuyết hồn đâu tá? Lệ rỏ gông cùm máu uổng chưa? Ai đó cách nhà ngâm vịnh được, Kẻ tù thường đến hỏi văn thơ. Bản dịch: Hoàng Trung Thông Vị minh tiểu kệ đồng Phan sinh dạ tọa Tuyển hữu mạc thủ khí Thủ khí mê kỳ nhân Vị minh mạc thác hoa Thác hoa ly kỳ chân Hiểu tỉnh cấp thanh tuyền Tế thán lý tân hỏa Vô yên giữ trần khí Hối thủ nhất tiếu khả Nhứ hương quý thanh chân Bất dụng ngoại thước ngã Vô dĩ nhất ác khan Phóng nhĩ tỵ quan giả Huyễn phục phi tráng nhan Phồn âm biến đại nhã Thí lưu nhất chuyễn ngữ Tự tại chứng hiện quả Cao Bá Quát Dịch Nghĩa Bài thơ này Cao Bá Quát làm nhân một dịp uống trà với Phan Nhạ, người cùng ông chấm thi ở trường thi Thừa Thiên. Trong lần chấm thi này, ông lấy muội đèn sửa bài của một số thí sinh. Công việc bại lộ, ông bị truy tố tội tử hình, sau đổi thành trảm giam hậu. Dịch Thơ Bài kệ uống trà làm trong khi ngồi khuya với Phan Nhạ Người ta không kể bề ngoài Bề ngoài diêm dúa sơ sài bên trong Tựa như trà ướp hoa ong Vị trà đã mất hương lòng mất theo Sáng ngày giếng nước trong veo Bỏ than thật nhỏ lò treo giữa lò Nước sôi không khói không tro Hai bàn tay sạch thơm tho khề khà Uống trà cốt ở vị trà nhiều hoa lắm lá hương trà sao thanh Đừng vì của hiếm hư danh Mà đem cái mũi tranh dành thực hư Áo quần không tạo phong tư Rườm rà cách điệu làm ngưng cung đàn Hãy nghe câu kệ lời vàng Đang là đang có, có là đang đang Bản dịch: Tường Vũ Anh Thy Điếu nội nhị thủ I Phụ vong tài bát nguyệt Mẫu bệnh dĩ kinh tuần Huống tử khuê trung phụ Phục vị tuyền hạ nhân Tử sinh hồn di biệt Tân cựu lệ nan phân Tạo vật cố vi giả Du du thử nhất thân II Lệ kết băng hàn lệ vị tàn La y huống phục lệ lan can Phương tương bạch thủ kỳ giai lão Ninh quán thanh thiên cự tác quan Hoa lạc dĩ vô đăng hạ chiếu Nguyệt minh duy hữu mộng trung khan Thương quân bất cảm cao thanh khốc Chỉ khủng quân tâm bất tự an Cao Bá Quát Dịch Thơ Khóc vợ I Cha mất chửa đầy năm, Mẹ đau trải cả tuần Tới giờ về chín suối Lại chính bạn chung chăn Sống thác hồn chia dễ Trước sau lệ khó phân Trời xanh sắp đặt thế Mờ mịt tủi cho thân Khóc vợ II Lệ đọng thành băng lệ chửa tan Áo tơ lại đẫm lệ tuôn tràn Mới vừa đầu bạc nguyền chung sống Sao nỡ đầu xanh vội cách ngăn Hoa rụng, ánh đèn nào chiếu sáng Trăng soi hồn mộng mãi băn khoăn Thương người không dám hờ to tiếng Vì sợ lòng người chẳng được an. Bản dịch: Đào Mộng Nam |
No comments:
Post a Comment