Người làng Lạc Tràng, tỉnh Hà Nam, đỗ cử nhân trường Hà Nội, vào thi hội đỗ phó bảng, làm quan dưới triều Tự Đức đến chức ngự sử, nên về sau thường gọi là cụ ngự Lạc Tràng. Khi vào thi hội, các sĩ tử (đủ mặt cử nhân các trường Trung, Nam, Bắc ) họp lại thử đoán xem đầu bài sẽ ra về vấn đề gì. Vũ nói:
- Theo ngu ý, năm nay quân Pháp, ngoài sự khiêu khích ra, còn xây thành lũy ở khắp nơi, và đặt binh trại rải rác gần kinh thành, có ý nhòm ngó. Tôi chắc kỳ văn sách khoa này thế nào đức Kim thượng cũng hỏi về công thủ chi sách ( kế sách đánh hay hoà ), anh em nghĩ sao?
Cử toạ vỗ tay tán đồng, rồi bàn nhau nếu đầu bài đúng như thế sẽ nhất tề luận theo thế công, nhất quyết xin chủ trương đánh, để tỏ lòng bất khuất của sĩ phu.
Khi vào trường thi, quả như lời họ Vũ đoán, kỳ văn sách ra đề về đoạn kim ( văn sách hỏi về nghĩa kinh, truyện xưa là đoạn cổ. Hỏi về thời sự là đoạn kim văn ): quân xâm lăng hiện nay càng ngày càng thêm gây hấn, đồn lũy khắp dân gian, vậy nên đánh hay nên hoà?
Sĩ tử thấy đầu đề đều khâm phục Vũ và cùng làm bài xin triều đình khởi thế công.
Trong quyển văn của Vũ có câu:
“ Triều đình ủng bách vãn chi tinh binh, kiến nghĩa bất vi vô dũng dã ”.
- Triều đình hiện có sẵn trăm vạn quân lính tinh nhuệ, theo việc nghĩa thì nên đánh quân xâm lăng, thế mà không đánh thì thật là không dũng cảm chút nào.
Vua Tự Đức phê vào bên câu này:
Kim nhật thỉnh chiến, minh nhật thỉnh chiến, chiến nhi bất thắng, tương trí trẫm ư hà địa?
- Hôm nay xin đánh, ngày mai xin đánh, nếu đánh mà thua, thì rồi đặt trẫm ở nơi nào?
Vua không muốn nói ra sự thực: triều đình đâu có trăm vạn tinh binh, mà cứ muốn đánh.
Văn trường không trúng ý khảo quan, nên họ Vũ chỉ đỗ phó bảng.
Trong bọn có cử nhân họ Dương, bội ước với anh em: khi họp bàn thì vâng vâng, dạ dạ: xin đánh; đến khi vào trường lại viết trái lại: xin hoà. Trúng ý quan trường, nên Dương được đỗ tiến sĩ.
Dẫu sao, Vũ vẫn là người chiến thắng về sĩ khí, danh dự còn hơn đỗ tiến sĩ nhiều. Hết thảy sĩ tử Trung, Nam, Bắc hợp lại khen ngợi ông nhiệt liệt, rồi cùng nghĩ đôi câu đối mừng:
Minh đình sách vấn kiêm tam đối.
Giáp đệ thâu nhân chỉ nhất hoà.
- Triều đình hỏi kế sách thì ông đối đáp được mọi điều.
- Thế mà giáp đệ chỉ đỗ phó bảng, thua người khác chỉ tại một chữ hoà.
Sĩ tử còn công phẫn tiến sĩ họ Dương, bàn nhau khi nào anh này vinh quy, sẽ họp lại đón đường đánh cho một trận.
Họ Dương mau được người báo cho biết trước nên sau khi lãnh mũ áo, cờ biển, phải cuốn ngay lại bỏ vào bồ, rồi đêm khuya trốn đi không kén không trống.
Vũ làm quan đến chức ngự sử. Tính người quả cảm, cương trực, các quan triều thần đều kính phục nể vì.
Bấy giờ vua Tự Đức còn thân mẫu là bà Từ Dụ Thái hậu. Nhà vua rất có hiếu, thường quanh quẩn bên màn, sớm hôm hầu hạ, nên việc triều chính có phần trễ nãi. Bên ngoài, quân Pháp thế mạnh như vũ bão, chỉ lăm le thôn tính, tình thế nước nhà như trứng để đầu đẳng. Có nhiều việc quan trọng khẩn cấp, ngự sử họ Vũ xin vào chầu mà mấy lần không được, sau phải dâng sớ trình bày, trong sớ có câu:
….yến tước xử đường, mẫu tử tương hộ, hú hú nhiên kỳ tương lạc, tự dĩ vi an….
Ý nói: nhà cháy đến nơi, mà mẹ con chim én, chim sẻ ở góc đầu nhà vẫn cùng mớm nhau, ra chiều vui vẻ, tự cho là yên ổn lắm.
Vua xem sớ giận quá phê vào bên này bốn chữ “ Tiến sĩ bất đệ” . Có ý mỉa họ Vũ: tiến sĩ cũng không đỗ được, còn làm nên trò trống gì mà hay chỉ trích.
Khi từ giã triều đình, ông cho khắc bốn chữ: Tiến sĩ bất đệ vào biển sơn son thiếp vàng, treo trên chỗ ngồi, để tỏ ý: ở lang miếu hay ở chốn giang hồ, lúc nào cũng để bụng đến quân quốc.
Mãi tới khi tuổi già, về thiết trường dạy học ở nhà một người bạn họ Lê tại làng Kim Lũ, huyện Thanh Liêm cùng tỉnh, ông vẫn để bốn chữ ấy phía trên chỗ ngồi. Để thường ngày chiêm ngưỡng và ngẫm nghĩ về sự đắn đo của nhà vua, mà thời cục đã giành lấy phần trả lời cay đắng cho vua, chua chát cho ông, lại khốn khổ cho cả dân tộc.
Sunday, October 25, 2009
VŨ PHẠM HÀM (Thám Hàm)
Người làng Đôn Thư, tỉnh Hà Đông, Bắc Việt, sinh năm 1863 .
Vốn dòng nho gia, tư chất thông minh vượt bực, chí khí cũng khác người .
Thủa nhỏ, ông có bài vịnh "Con cua" để tỏ chí mình:
Linh đài nhất điểm tự phân minh
Thùy bả vô tràng mạn phẩm bình
Thảo dã thử thân nguyên hữu dụng
Giang sơn đáo xứ tẫn hoành hành
Huyền hoàng mãn phúc, văn tâm nhuận
Qua giáp đương đầu: võ lược tinh
Thiên hạ chính đương cơ khát vọng
Quân như bất xuất, thục điều canh ?
- Một điểm ở linh đài (tâm) rất rõ rang
- Vậy mà người ta cứ bảo là cua không có ruột
- Tuy ở chốn thảo dã, nhưng thân hữu dụng
- Giang sơn đến đâu cũng hoành hành (đi ngang)
- Trong bụng có sắc đen và sắc vàng, là sẵn có văn chương
- Đầu có gươm, mình có áo giáp là giỏi võ lược
- Thiên hạ đương mong mỏi, ví như đói mong ăn, khát mong uống
- Nếu cứ ở yên mà không chịu ra, lấy gì giúp việc nấu canh ?
Bốn chữ "Quân như bất xuất" lấy điển Tạ An đời Tần, có chữ "Bất xuất như thương sinh hà" (nếu không ra, thì dân biết trông cậy vào ai). "Thục điều canh" lấy điển Phó Duyệt: "Điều canh dụng nhữ tác diêm mai" ý nói vua tôi hợp nhau như người nấu canh vừa mắm vừa muối .
Bản dịch Nhân Phủ:
Khuông thiêng sẵn có đủ phân minh
"Không ruột" đời sao dám phẩm bình!
Cỏ nội, thân này còn hữu dụng
Giang sơn đâu cũng vẫn hoành hành
Gấm hoa đầy bụng: văn tâm đẹp
Qua giáp đương đầu: võ nghệ tinh
Thiên hạ chính đang khoa khát đấy
Vắng anh, ai kẻ đứng điều canh ?
Năm 21 tuổi đỗ thủ khoa (giáp thân, đời Kiến Phúc, 1884).
Đến khoa thi hội, năm nhâm thìn, Thành Thái 4, 1892, đỗ hội nguyên, vào đình đỗ thám hoa, nên gọi là tam nguyên Thám Hoa, gọi tắt là "ông Thám".
Triều Nguyễn, Bắc kỳ có ba tam nguyên:
Tam Nguyên Vị Xuyên Trần Bích san, Tam Nguyên Yên Đỗ Nguyễn Khuyến, và ông .
Nhưng hai ông trên đỗ nhị giáp, riêng ông nhất giáp: nước ta từ trước, đỗ tam nguyên nhất giáp duy chỉ có ông và đời Lê, bảng nhỡn Lê Quý Đôn nữa mà thôi .
Ông có trí nhớ ít người bì kịp . Khoa hội năm nhâm thìn, đầu bài ra 24 tiên nho, ông nhớ được đủ tên . Lúc đỗ, Đồng Văn Nhật Báo đã đăng:
Vũ quân kỳ khôi tinh giáng thế dư! (Ông Vũ phải chăng là sao giáng thế ?)
Bấy giờ, ở Thanh Hóa có ông Triệu văn hay chữ tốt, nhưng lạo đảo trường ốc, thi đến năm 64 tuổi mà vẫn không đỗ . Tuổi càng cao, bạn đồng hành càng vắng, người học lớp sau thì ông lại cho tài kém cả, nên thường than thở một cách tự phụ: "Không biết còn nói chuyện văn chương với ai được nữa bây giờ!"
Khi nghe tiếng Vũ Phạm Hàm vừa đỗ tam nguyên Thám Hoa; ông đã 72 tuổi . Bụng nghĩ không biết anh này học lực thế nào mà đỗ cao đến thế, bèn quyết định ra Đôn Thư để thử tài .
Hôm ấy nhằm ngày 26 tháng Chạp năm Nhâm Thìn 1982, ông chặt mấy buồn cao tốt ở vườn, lững thững một mình gánh đi .
Sáng 30 tới làng Đôn Thư, hỏi thăm đến nhà ông Thám, thì gặp lúc trong nhà đương tấp nập chuẩn bị ăn tết . Ông để cau ngoài sân, bó gối ngồi trên cái đòn gánh, người nhà không ai để ý đến .
Mãi quá trưa, bà Thám ở trong nhà ra, trông thấy mới hỏi:
- Ông lão ở đâu đến thế kia ?
- Thưa, tết đến nơi cần tiền tiêu, lão đưa hai buồng cau đi bán .
Bà Thám đến xem cau hỏi giá . Ông Thưa:
- Bà lớn muốn trả bằng nào cũng được .
Trong khi bà Thám mãi chọn cau, ông lò dò lên nhà khách, vờ xem hoành phi câu đối, nhác thấy ông Thám đang tưới các chậu lan ở trong sân nhà ngang, ông bèn đứng dậy gật gù ngâm nga, đáng tiếng .
- Ông lão cũng biết chữ đấy à ?
- Bẩm lão cũng lõm bọ
Rồi ông Triệu hết sức tán dương, những là ông Thám học rộng đỗ cao, nhà cửa sang trọng ...
Ông Thám rất đẹp ý . Chợt trông thấy bàn cờ sơn son treo trên vách, ông Triệu giả bộ ngớ ngẩn:
- Thế quan lớn cũng biết đánh cờ kia à ?
Ông Thám tức lộn ruột, nhưng cố nhịn nói:
- Lão có biết đánh khổng
Ông ung dung thưa:
- Cái gì chứ cờ thì xin thú thực là cao tuyệt . Nếu hôm nay quan lớn thư thả, lão xin hầu mấy ván .
Ông Thám không trả lời, vẫy ông vào trong, rồi sai người nhà lấy bàn cờ xuống .
Ông Thám ngất ngưởng ngồi trên sập, dựa lưng vào gối xếp, đưa tay bầy một bên cờ, còn một bên, ông Triệu đứng dưới lom khom bầy . Xong, ông Thám giơ tay toan đi trước, ông Triệu vội chặn lại nói:
- Lão quê mùa chỉ được nghe danh quan lớn, nay ngài lại quá yêu cho hầu cờ, thật lấy làm hân hạnh . Nhưng xin phép quan lớn, xưa nay những bậc tao nhân đánh cờ bao giờ cũng có thưởng phạt, ai thua ba ván phải phạt uống ba chén rượu đầy . Phạt rượu như thế là thường, lão muốn khác hơn kia ạ .
Ông Thám hỏi:
- Lão muốn thế nào ?
- Ý lão vừa đánh cờ vừa làm thơ, nếu không làm xong thơ, phạt uống 3 chén rượu .
Ông Thám nói:
- Lão đã muốn thế, thì xong một ván cờ, mỗi người xong một bài thơ, ai chưa xong, sẽ phải phạt .
Ông Triệu tủm tỉm cười:
- Xong một ván cờ, mới xong một bài thơ, thì ai chả làm được! Lão muốn cứ đi một nước cờ, phải ngâm xong một bài thơ, như thế thưởng phạt mới xứng đáng .
Ông Thám nghe nói, lạnh toát cả người, trong bụng phân vân, tự hỏi hay là tiên đến thử tài mình đây chăng ? Liếc mắt nhìn lại, thấy tuy ăn mặc quê mùa, nhưng cốt cách thanh tú, mới hối là trót vô lễ với bậc già cả: mình ngồi trên sập, mà để người đứng dưới đất . Ông vội gọi người nhà đưa ghế mời ngồi, và bưng nước trà . Nhưng ông Triệu sua tay, ra ý không cần, và gặng lại:
- Ngu ý như vậy, tôn ý thế nào ?
Ông Thám tuy đã hàn tâm, nhưng nghĩ tiếng tăm Tam Nguyên Thám Hoa lừng lẫy, không lẽ lại chịu một ông lão nhà quê về việc văn chương, bèn gượng lại trả lời:
- Xin tuân .
Ông Triệu giơ tay mời ông Thám đi nước đầu, ông Thám ôn tồn nói:
- Tiền khách hậu chủ, xin mời lão đi trước .
Ông Triệu kiêu hãnh không từ chối .
Ông Thám mừng thầm bước khó khăn đã nhường được rồi, và đợi xem thi tài của đối thủ ra sao .
Ông Triệu vừa để tay lên con pháo, vừa cất giọng ngâm:
Chi giao tình khởi tại văn chương
Nhất kiến chi như nhập lý hương
Tức vũ trụ trung giai phận sự
Ư thiên địa nội hữu cương thường ...
Bài thơ có bốn chữ đầu: chi, nhất, tức, ư là những chữ thường dùng để đệm, nay cố ý lập dị, đưa lên đầu câu . Trong thơ đại ý nói ông Thám đỗ cao thì mặc ông, nhưng cương thường để đâu, sao không biết trọng người già cả ?
Ông Thám nghe ngâm dứt câu, rất đỗi kinh dị, nhân thấy ông già nói giọng miền Thanh Hoá, chợt nghĩ đến tiếng đồn "Nghệ Lương Hành, Thanh Triệu Bích" (ở Nghệ có ông Lương ông Hành, ở Thanh có ông Triệu ông Bích) phỏng đóan đây là một trong hai văn nhân danh tiếng đất Thanh Hoá, vội nhẩy xuống, chắp tay nói:
- Tôi hỏi khí không phải, cụ có phải cụ Triệu ở Thanh không ?
Ông Triệu đáp ngay:
- Chính lão .
Ông Thám liền mời ông lên sập và nói:
- Thưa bác, cháu tuy đỗ đạt, nhưng đỗ với người khác, chứ khi nào dám đỗ với bác; sao bác hạ cố đến chơi, không bảo thực cháu, lại còn thử thách làm gì thế!
Rồi gọi bà Thám lên chào, và bắt người nhà làm cơm, giữ ông Triệu ở chơi đến mồng 10 tết mới tiễn ra về .
......
Vốn dòng nho gia, tư chất thông minh vượt bực, chí khí cũng khác người .
Thủa nhỏ, ông có bài vịnh "Con cua" để tỏ chí mình:
Linh đài nhất điểm tự phân minh
Thùy bả vô tràng mạn phẩm bình
Thảo dã thử thân nguyên hữu dụng
Giang sơn đáo xứ tẫn hoành hành
Huyền hoàng mãn phúc, văn tâm nhuận
Qua giáp đương đầu: võ lược tinh
Thiên hạ chính đương cơ khát vọng
Quân như bất xuất, thục điều canh ?
- Một điểm ở linh đài (tâm) rất rõ rang
- Vậy mà người ta cứ bảo là cua không có ruột
- Tuy ở chốn thảo dã, nhưng thân hữu dụng
- Giang sơn đến đâu cũng hoành hành (đi ngang)
- Trong bụng có sắc đen và sắc vàng, là sẵn có văn chương
- Đầu có gươm, mình có áo giáp là giỏi võ lược
- Thiên hạ đương mong mỏi, ví như đói mong ăn, khát mong uống
- Nếu cứ ở yên mà không chịu ra, lấy gì giúp việc nấu canh ?
Bốn chữ "Quân như bất xuất" lấy điển Tạ An đời Tần, có chữ "Bất xuất như thương sinh hà" (nếu không ra, thì dân biết trông cậy vào ai). "Thục điều canh" lấy điển Phó Duyệt: "Điều canh dụng nhữ tác diêm mai" ý nói vua tôi hợp nhau như người nấu canh vừa mắm vừa muối .
Bản dịch Nhân Phủ:
Khuông thiêng sẵn có đủ phân minh
"Không ruột" đời sao dám phẩm bình!
Cỏ nội, thân này còn hữu dụng
Giang sơn đâu cũng vẫn hoành hành
Gấm hoa đầy bụng: văn tâm đẹp
Qua giáp đương đầu: võ nghệ tinh
Thiên hạ chính đang khoa khát đấy
Vắng anh, ai kẻ đứng điều canh ?
Năm 21 tuổi đỗ thủ khoa (giáp thân, đời Kiến Phúc, 1884).
Đến khoa thi hội, năm nhâm thìn, Thành Thái 4, 1892, đỗ hội nguyên, vào đình đỗ thám hoa, nên gọi là tam nguyên Thám Hoa, gọi tắt là "ông Thám".
Triều Nguyễn, Bắc kỳ có ba tam nguyên:
Tam Nguyên Vị Xuyên Trần Bích san, Tam Nguyên Yên Đỗ Nguyễn Khuyến, và ông .
Nhưng hai ông trên đỗ nhị giáp, riêng ông nhất giáp: nước ta từ trước, đỗ tam nguyên nhất giáp duy chỉ có ông và đời Lê, bảng nhỡn Lê Quý Đôn nữa mà thôi .
Ông có trí nhớ ít người bì kịp . Khoa hội năm nhâm thìn, đầu bài ra 24 tiên nho, ông nhớ được đủ tên . Lúc đỗ, Đồng Văn Nhật Báo đã đăng:
Vũ quân kỳ khôi tinh giáng thế dư! (Ông Vũ phải chăng là sao giáng thế ?)
Bấy giờ, ở Thanh Hóa có ông Triệu văn hay chữ tốt, nhưng lạo đảo trường ốc, thi đến năm 64 tuổi mà vẫn không đỗ . Tuổi càng cao, bạn đồng hành càng vắng, người học lớp sau thì ông lại cho tài kém cả, nên thường than thở một cách tự phụ: "Không biết còn nói chuyện văn chương với ai được nữa bây giờ!"
Khi nghe tiếng Vũ Phạm Hàm vừa đỗ tam nguyên Thám Hoa; ông đã 72 tuổi . Bụng nghĩ không biết anh này học lực thế nào mà đỗ cao đến thế, bèn quyết định ra Đôn Thư để thử tài .
Hôm ấy nhằm ngày 26 tháng Chạp năm Nhâm Thìn 1982, ông chặt mấy buồn cao tốt ở vườn, lững thững một mình gánh đi .
Sáng 30 tới làng Đôn Thư, hỏi thăm đến nhà ông Thám, thì gặp lúc trong nhà đương tấp nập chuẩn bị ăn tết . Ông để cau ngoài sân, bó gối ngồi trên cái đòn gánh, người nhà không ai để ý đến .
Mãi quá trưa, bà Thám ở trong nhà ra, trông thấy mới hỏi:
- Ông lão ở đâu đến thế kia ?
- Thưa, tết đến nơi cần tiền tiêu, lão đưa hai buồng cau đi bán .
Bà Thám đến xem cau hỏi giá . Ông Thưa:
- Bà lớn muốn trả bằng nào cũng được .
Trong khi bà Thám mãi chọn cau, ông lò dò lên nhà khách, vờ xem hoành phi câu đối, nhác thấy ông Thám đang tưới các chậu lan ở trong sân nhà ngang, ông bèn đứng dậy gật gù ngâm nga, đáng tiếng .
- Ông lão cũng biết chữ đấy à ?
- Bẩm lão cũng lõm bọ
Rồi ông Triệu hết sức tán dương, những là ông Thám học rộng đỗ cao, nhà cửa sang trọng ...
Ông Thám rất đẹp ý . Chợt trông thấy bàn cờ sơn son treo trên vách, ông Triệu giả bộ ngớ ngẩn:
- Thế quan lớn cũng biết đánh cờ kia à ?
Ông Thám tức lộn ruột, nhưng cố nhịn nói:
- Lão có biết đánh khổng
Ông ung dung thưa:
- Cái gì chứ cờ thì xin thú thực là cao tuyệt . Nếu hôm nay quan lớn thư thả, lão xin hầu mấy ván .
Ông Thám không trả lời, vẫy ông vào trong, rồi sai người nhà lấy bàn cờ xuống .
Ông Thám ngất ngưởng ngồi trên sập, dựa lưng vào gối xếp, đưa tay bầy một bên cờ, còn một bên, ông Triệu đứng dưới lom khom bầy . Xong, ông Thám giơ tay toan đi trước, ông Triệu vội chặn lại nói:
- Lão quê mùa chỉ được nghe danh quan lớn, nay ngài lại quá yêu cho hầu cờ, thật lấy làm hân hạnh . Nhưng xin phép quan lớn, xưa nay những bậc tao nhân đánh cờ bao giờ cũng có thưởng phạt, ai thua ba ván phải phạt uống ba chén rượu đầy . Phạt rượu như thế là thường, lão muốn khác hơn kia ạ .
Ông Thám hỏi:
- Lão muốn thế nào ?
- Ý lão vừa đánh cờ vừa làm thơ, nếu không làm xong thơ, phạt uống 3 chén rượu .
Ông Thám nói:
- Lão đã muốn thế, thì xong một ván cờ, mỗi người xong một bài thơ, ai chưa xong, sẽ phải phạt .
Ông Triệu tủm tỉm cười:
- Xong một ván cờ, mới xong một bài thơ, thì ai chả làm được! Lão muốn cứ đi một nước cờ, phải ngâm xong một bài thơ, như thế thưởng phạt mới xứng đáng .
Ông Thám nghe nói, lạnh toát cả người, trong bụng phân vân, tự hỏi hay là tiên đến thử tài mình đây chăng ? Liếc mắt nhìn lại, thấy tuy ăn mặc quê mùa, nhưng cốt cách thanh tú, mới hối là trót vô lễ với bậc già cả: mình ngồi trên sập, mà để người đứng dưới đất . Ông vội gọi người nhà đưa ghế mời ngồi, và bưng nước trà . Nhưng ông Triệu sua tay, ra ý không cần, và gặng lại:
- Ngu ý như vậy, tôn ý thế nào ?
Ông Thám tuy đã hàn tâm, nhưng nghĩ tiếng tăm Tam Nguyên Thám Hoa lừng lẫy, không lẽ lại chịu một ông lão nhà quê về việc văn chương, bèn gượng lại trả lời:
- Xin tuân .
Ông Triệu giơ tay mời ông Thám đi nước đầu, ông Thám ôn tồn nói:
- Tiền khách hậu chủ, xin mời lão đi trước .
Ông Triệu kiêu hãnh không từ chối .
Ông Thám mừng thầm bước khó khăn đã nhường được rồi, và đợi xem thi tài của đối thủ ra sao .
Ông Triệu vừa để tay lên con pháo, vừa cất giọng ngâm:
Chi giao tình khởi tại văn chương
Nhất kiến chi như nhập lý hương
Tức vũ trụ trung giai phận sự
Ư thiên địa nội hữu cương thường ...
Bài thơ có bốn chữ đầu: chi, nhất, tức, ư là những chữ thường dùng để đệm, nay cố ý lập dị, đưa lên đầu câu . Trong thơ đại ý nói ông Thám đỗ cao thì mặc ông, nhưng cương thường để đâu, sao không biết trọng người già cả ?
Ông Thám nghe ngâm dứt câu, rất đỗi kinh dị, nhân thấy ông già nói giọng miền Thanh Hoá, chợt nghĩ đến tiếng đồn "Nghệ Lương Hành, Thanh Triệu Bích" (ở Nghệ có ông Lương ông Hành, ở Thanh có ông Triệu ông Bích) phỏng đóan đây là một trong hai văn nhân danh tiếng đất Thanh Hoá, vội nhẩy xuống, chắp tay nói:
- Tôi hỏi khí không phải, cụ có phải cụ Triệu ở Thanh không ?
Ông Triệu đáp ngay:
- Chính lão .
Ông Thám liền mời ông lên sập và nói:
- Thưa bác, cháu tuy đỗ đạt, nhưng đỗ với người khác, chứ khi nào dám đỗ với bác; sao bác hạ cố đến chơi, không bảo thực cháu, lại còn thử thách làm gì thế!
Rồi gọi bà Thám lên chào, và bắt người nhà làm cơm, giữ ông Triệu ở chơi đến mồng 10 tết mới tiễn ra về .
......
VŨ HỮU LỢI (NGHÈ GIAO CÙ)
Người làng Giao Cù, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định. Đỗ tiến sĩ đời Tự Đức, tục gọi là ông Nghè Giao Cù. Tuy đỗ cao, nhưng không chịu ra làm quan, chỉ ở nhà dạy học. Năm Ất Dậu ( 1885 ) đứng đầu văn thân Nam Định mưu việc Cần vương.
Việc thất bại, ông lang thang mai đây mai đó. một hôm trốn đến núi Gôi, bị lính tuần bắt được, giải về Nam Định. Tổng đốc tỉnh này là Vũ văn Báo, lên án xử tử, đưa ông ra chém ở gần bến Vị Hoàng. Năm ấy ông chưa đến 50 tuổi, ông có ngâm câu tuyệt mệnh:
Võ vô dụng địa tương thùy thích?
Sự đại như thiên nại nhĩ hà?
- Võ không còn đất đi đâu được?
- Việc lớn như trời biết tính sao?
Vì sợ uy thế người Pháp, nên bạn bè và học trò không ai dám đến lo ma và phúng viếng, chỉ duy Yên Đổ có câu đối:
Vị tiệp thân tiên, trường xử anh hùng lệ mãn. (1)
Tịnh du nhan hậu, khẳng giao phu tử sinh hoàn. (2)
- Ra quân chưa báo tin thắng, mà đã chết, khiến người anh hùng đầy nước mắt.
- Những bạn ông đều xấu hổ, dầy mặt, nghĩ như ông, chết là phải không nên sống.
Yên Đổ lại làm bài thơ tứ tuyệt vịnh con thiêu thân, dụng ý khóc ông nghè Giao Cù.
Tiện nhĩ tiêm tiêm nhất vũ hàn.
Đầu minh nhi tử, tử nhi an.
Cô đăng sát nhĩ ưng lân nhĩ.
Đãi đáo thành hôi, lệ thủy càn.
Bản dịch của Nhân phủ:
Chiếc thân nhỏ nhắn lẹ như tên
Tìm sáng liều mình, thác đã yên.
Ngọn sáp hại người, nhưng vẫn xót:
Xác chưa tàn hết, lệ còn hoen…
…………..
1. Đường thi: Đỗ Phủ đề đền Gia Cát Võ Hầu:
Xuất sư vị tiệp thân tiên tử
Trường xử anh hùng lệ mãn khâm.
Lấy câu trên bốn chữ, câu dưới bỏ đi một chữ khâm.
2. Tống thi: Đường Giới phải đi đày lại được về:
Tịnh du anh tuấn nhan hà hậu.
Vị tử gian du cốt vị hàn.
Thiên vị ngô hoàng phù xã tắc.
Khẳng giao phụ tử bất sinh hoàn.
Lấy câu trên bốn chữ, câu cuối cùng bớt đi một chữ bất.
Việc thất bại, ông lang thang mai đây mai đó. một hôm trốn đến núi Gôi, bị lính tuần bắt được, giải về Nam Định. Tổng đốc tỉnh này là Vũ văn Báo, lên án xử tử, đưa ông ra chém ở gần bến Vị Hoàng. Năm ấy ông chưa đến 50 tuổi, ông có ngâm câu tuyệt mệnh:
Võ vô dụng địa tương thùy thích?
Sự đại như thiên nại nhĩ hà?
- Võ không còn đất đi đâu được?
- Việc lớn như trời biết tính sao?
Vì sợ uy thế người Pháp, nên bạn bè và học trò không ai dám đến lo ma và phúng viếng, chỉ duy Yên Đổ có câu đối:
Vị tiệp thân tiên, trường xử anh hùng lệ mãn. (1)
Tịnh du nhan hậu, khẳng giao phu tử sinh hoàn. (2)
- Ra quân chưa báo tin thắng, mà đã chết, khiến người anh hùng đầy nước mắt.
- Những bạn ông đều xấu hổ, dầy mặt, nghĩ như ông, chết là phải không nên sống.
Yên Đổ lại làm bài thơ tứ tuyệt vịnh con thiêu thân, dụng ý khóc ông nghè Giao Cù.
Tiện nhĩ tiêm tiêm nhất vũ hàn.
Đầu minh nhi tử, tử nhi an.
Cô đăng sát nhĩ ưng lân nhĩ.
Đãi đáo thành hôi, lệ thủy càn.
Bản dịch của Nhân phủ:
Chiếc thân nhỏ nhắn lẹ như tên
Tìm sáng liều mình, thác đã yên.
Ngọn sáp hại người, nhưng vẫn xót:
Xác chưa tàn hết, lệ còn hoen…
…………..
1. Đường thi: Đỗ Phủ đề đền Gia Cát Võ Hầu:
Xuất sư vị tiệp thân tiên tử
Trường xử anh hùng lệ mãn khâm.
Lấy câu trên bốn chữ, câu dưới bỏ đi một chữ khâm.
2. Tống thi: Đường Giới phải đi đày lại được về:
Tịnh du anh tuấn nhan hà hậu.
Vị tử gian du cốt vị hàn.
Thiên vị ngô hoàng phù xã tắc.
Khẳng giao phụ tử bất sinh hoàn.
Lấy câu trên bốn chữ, câu cuối cùng bớt đi một chữ bất.
VŨ DUY THANH
VŨ DUY THANH
Người Kim Bồn, nay là làng Vân Bồn, huyện Yên Khánh, Ninh Bình, Bắc Việt . Sinh thời Gia Long, đỗ cử nhân đời Thiệu Trị .
Thi hội mấy khoa không đỗ, đến năm Tân Hợi, Tự Đức IV (1851), đỗ phó bảng . Khoa này, Phạm Thanh người Thanh Hóa đỗ bảng nhỡn . Kéo bảng xong, vua Tự Đức nằm mơ thấy có người bảo : "Khoa này còn bỏ sót lại người tài", và đưa một cái bảng ra, trong có hai chữ Thanh . Khi tỉnh dậy, vua lấy làm phân vân, sau cho mở thêm ngày ân khoa, gọi là khoa hoành từ, cho các tú tài củ nhân và phó bảng đã đồ từ trước đến nay đều được vào thi cả .
Khoa hội ấy, Vũ Huy Dực người Bắc Ninh, đã đỗ 6 khoa tú tài, được chấm đỗ hội nguyên, Vũ Duy Thanh đứng thứ nhì .
Khi vào thi đình, Vũ Duy Thanh được 8 phân, mà Vũ Huy Dực được có 6, thành ra Vũ Duy Thanh đỗ bảng nhỡn trị trạng nguyên, Vũ Huy Dực đỗ thám hoa; vì thế nên thường gọi Vũ Duy Thanh là cụ bảng Kim Bồng . Triều Nguyễn không lấy trạng nguyên, kể khoa bảng ông cao hơn mọi người .
Ông tư chấ cực thông minh, phàm sách đã trông qua một lượt là nhớ, lại có tài ứng đối mẫn tiệp .
Ngày con đi học, gặp năm nước sông lên to, tri phủ Yên Khánh về đốc dân hộ đê, ông đi ngang qua đó, lính bắt phải xuống khiêng đất, ông xin miễn lấy cớ là học trò yếu ớt .
Tri phủ nói:
- Nếu thực là học trò, ta ra cho câu đối:
Quan thị đắp đê Kim Bồng, chắn hồng thủy cho dân được cậy
Ông ứng khổi đối ngay:
Nhà nho đỗ khoa bảng nhãn, quyết tranh khôi, thì chí mới cam
Câu ra dụng ý dùng bốn thứ quả: thị, hồng, bồng, cậy (chữ thị: tri phủ nguyên là hàm thị độc).
Câu đối lại có bốn thứ quả: nho, nhãn, chanh, cam .
Lúc đối là ngẫu nhiên, cốt đối cho đúng lệ mà thôi, ai ngờ về sau ông đỗ bảng nhãn, thành ra câu đối có vẻ ứng nghiệm như lời thi sấm, nên mới được truyền tụng .
Khi đỗ bảng nhãn ông đã 45 tuổi, được bổ vào Tập Hiền Viện, rồi thăng chức Quốc Tử Giám tế tửu .
Gặp năm tế Nam Giao, ông xung vào chức bồi tự, phàm các quan dự tế, mỗi người phải nghĩ một câu đối để viết vào đàn giao . Câu của ông:
Chí thành tùy địa hữu vu, như tại kỳ thượng, tại kỳ tả hữu,
Thánh đức dữ thiên vô gián, nhi huống ư nhân, huống ư quỷ thần .
- Chữ Trung dung: lòng thành tùy chốn nào, cũng có cảm tin như là thần minh ở trên,và ở tả hữu
- Chữ Kinh Dịch: đức nhà vua đối với trời không xa cách (gián đoạn) huống chi người và quỷ thần .
Vua Tự Đức ban khen .
Một hôm vua hỏi:
- Trẫm muốn thăng chức cho khanh, tùy ý khanh chọn chức gì .
Ông tâu:
- Thần chỉ muốn ở gần kinh khuyết; được trông thấy thánh quang luôn luông, vậy nên xin giữ chức tế tửu để rèn luyện học trò, là thoả nguyện .
Vua chiều ý, để làm tế tửu mãi đến lúc mất .
Năm Tự Đức 12 (1859), Pháp đánh lấy cửa Đà Nẵng và ba tỉnh Nam Kỳ, ông thấy khí giới lợi hại, và tàu bè vận chuyển nhanh chóng, bèn nghĩ chế một chiếc thuyền, chạy bằng hơi nước, đem cho chạy thử ở cửa Thuận: tuy máy móc không bằng người Âu, nhưng về sáng kiến, ông tỏ ra là người có óc khoa học .
Lúc vào chấm trường ở Bình Định, qua đèo Hải Vân, phải trèo nhiều đồi núi, đường đi vất vả, trong khi nằm trên cáng, ông làm bài thơ tập thơ cổ :
Vân khởi cao đài nhật vị trầm (Liễu Tôn Nguyên)
Đạm yên sơ khánh tản không tâm (Lưu Sương)
Tam xuân nguyệt chiếu thiên sơn lộ (Ôn Đình Quân)
Lục mạc thiên không vạn lý tâm (Hồ Túc)
Tử dản thượng thiêm hoàng chỉ án (Ngô Dung)
Ngọc thư ứng niệm tố trần xâm (Lý Quần Ngọc)
Nhất danh sở hệ vô cùng sự (Tiết Phùng)
Nhật mộ liêu vi Lương Phủ ngâm (Đỗ Phủ)
Bài này lấy trong Đường thi, trích mỗi bài một câu, hợp lại 8 câu thành bài .
Bốn câu trên tả cảnh núi buổi chiều
Bốn câu dưới nói tâm sự mình
- Khi lên núi, thấy mây đùn ở núi lên, mà mặt trời chưa lặn
- Lúc ấy sương đã xuống, nghe thấy tiếng khánh ở rừng xa đưa lại
- Bóng trăng về tháng ba soi rõ đường núi
- Tấc lòng bâng khuâng nghĩ khắp muôn dặm và sáu cõi ở trong trời đất
- Nghĩ mình đã được thẻ tía, lại thêm giấy vàng (ơn vua)
- Tờ ngọc thư là vật quý, chỉ sợ bụi làm nhơ (sao cho giữ được tiết trong sạch)
- Chỉ vì cái danh mà phải ràng buộc
- Nên buổi chiều thường đọc bài thơ Lương Phủ (Khổng Minh lúc còn ẩn ở Long Trung hay ngâm bài này) .
Dịch nôm
Mây phủi đài cao bóng ác tà
Khánh đâu rừng vắng vẳng nghe qua
Ba xuân trăng tỏ nghìn non quạnh
Sáu cõi trời cao vạn dặm xa
Ân nặng bao phen tờ dụ xuống
Tình riêng những ngại bụi đời nhơ
Cái danh ràng buộc thêm nhiều việc
Khúc cũ ngâm tràn luống ngẩn ngơ ...
Lúc nhàn rồi ông cao hứng vịnh bài thơ "Phong Hoa Tuyết Nguyệt":
Thi đàn tế liễu lộng hoa hài
Khách bộ tùy sương, ấn bích đài
Kỳ cục đả phong thanh áp trận
Tửu biều nghinh tuyết bạch hòa bôi
Sơ liêm thấu nguyệt hương ly cúc
Yến tịch lăng hoa vị át mai
Phi phất lĩnh đầu chiêm tĩnh điếm
Thi đàn tế liêu lộng hoa hài
- Đi hài hoa đến thi đàn, qua dặng liễu nhỏ
- Lốt giầy khách đi sớm, in trên rêu biếc
- Nhân lúc gió mát đánh cuộc cờ
- Có tuyết xuống nghiên bầu rượu uống
- Vườn cúc bóng trăng soi qua rèm thưa
- Mùi hương hoa mai đưa vào tiệc yến
- Phất phơ gió thổi qua điếm vắng trên đỉnh núi
- Đi hài hoa đến thi đàn, qua dặng liễu nhỏ
Bài này tài tình, đọc xuôi là thơ chữ Hán, đọc ngược từ dưới lên trên theo lối đọc chữ nôm thì lại thành thơ quốc văn:
Giầy hoa lỏng lẻo tới đàn thơ
Điếm tạnh xem đầu núi phất phơ
Mai át mùi hoa lừng tiệc yến
Cúc lìa hương nguyệt thấu rèm thưa
Chén hoà bạch tuyết nghiêng bầu rượu
Trận áp thanh phong đánh cuộc cờ
Rêu biếc in sương theo bước khách
Giầy hoa lỏng lẻo tới đàn thơ .
Năm Tự Đức XII 91859) vua sai Nguyễn Tri Phương vào quân thứ Nam Kỳ, để chống giữ với người Pháp, Nguyễn với ông vốn là bạn tâm giao, nên khi lâm hành, ông có tiễn bài thơ:
Nước non xưa vẫn nước non này:
Cõi bắc ngàn nam suốt một dây
Ba tỉnh cát lầm đương rộn nỗi
Chín lần gươm báu phải trao tay
Đẩy xe vâng chỉ không dong giặc
Truyền hịch ra quân sớm định ngày
Cờ tía những mong tin báo tiệp
Tên ghi gác khói, tượng đài mây ...
- Khói là yên, mây là vân . Nhà Hán, những công thần được khắc tên và vẽ tượng ở Lăng Yên Các và Vân Đài .
Lúc ở Quốc Tử Giám, thường có một người đến chơi, không nói tên họ, chỉ xưng là Bình Sơn Thi Khách, xướng họa thi văn với ông rất là tương đắc .
Một hôm vào khoảng thánh hai, Bình sơn đến nhà, ông đi vắng, khách để lại mấy chữ:
Nhất giáp nhất danh kim bảng quý
Tứ nguyệt tứ nhật ngọc lâu thành
Từ đấy không thấy Bình Sơn trở lại . Đến ngày mồng 4 tháng 4 năm ấy ông từ trần . Bấy giờ mới hiểu câu Tứ nguyệt tứ nhật ngọc lâu thành .
Sau khi từ trần, giám thần dâng sớ lên, vua Tự Đức châu phê : Khả mẫn gia tuất tiền bách (khá thương gia ân cho 100 quan tiền), và cho đưa quan tài về quê ở Ninh Bình, tư cho đi qua tỉnh nào, các học quan tỉnh ấy đều phải phúng điếu . Các quan ở Kinh có câu đối viếng:
Cửu nguyên di hận Trà Sơn úc
Thiên lý quy hồn Thuý Lĩnh phong
- Chín suối còn di hận ở vùng núi Trà sơn (thuộc Đà Nẵng): Lúc Pháp đánh cửa Đà Nẵng, ông có dâng sớ xin tòng quân, nhưng vua không cho .
- Du hồn về núi Thúy sơn, đường xa nghìn dặm (Thuý sơn thuộc Ninh Bình).
Câu đối của bảng nhãn Phạm Thanh:
Nhân bảo đương vi thiên hạ tích
Hoạn tình năng động cửu trùng lân
- Người quý nay mất đi, thiên hạ đều tiếc
- Tính làm quan thanh bạch, cửu trùng cũng thương
Câu đối của nội các Vũ Phạm Khải:
Đông canh đồng thuận, đồng tính thị châu lư, vãn bối suy quân tiêu vật vọng
Thử cảnh thử tình, thử giang sơn bi kiệt, tích hiền tiên ngã ký sầu ngâm
- Cùng tuổi, cùng học, cùng họ lại cùng tỉnh, những học trò lớp sau đều tôn trọng ông là bực tiêu biểu: ông Khải chỉ đỗ cử nhân nên mong học trò lớp sau, đỗ được cao như ông bảng .
- Tình ấy, cảnh ấy, núi sông ấy và bia đá ấy, người hiền xưa đã trước ta, gửi tiếng sầu ngâm: người xưa, chỉ Trương Hán Siêu, vì Trương làm bài văn bia Linh Tế Tháp, ông Bảng có bài Bình Linh Tế Tháp, việc văn chương có can hệ đến mối sầu cảm .
Người Kim Bồn, nay là làng Vân Bồn, huyện Yên Khánh, Ninh Bình, Bắc Việt . Sinh thời Gia Long, đỗ cử nhân đời Thiệu Trị .
Thi hội mấy khoa không đỗ, đến năm Tân Hợi, Tự Đức IV (1851), đỗ phó bảng . Khoa này, Phạm Thanh người Thanh Hóa đỗ bảng nhỡn . Kéo bảng xong, vua Tự Đức nằm mơ thấy có người bảo : "Khoa này còn bỏ sót lại người tài", và đưa một cái bảng ra, trong có hai chữ Thanh . Khi tỉnh dậy, vua lấy làm phân vân, sau cho mở thêm ngày ân khoa, gọi là khoa hoành từ, cho các tú tài củ nhân và phó bảng đã đồ từ trước đến nay đều được vào thi cả .
Khoa hội ấy, Vũ Huy Dực người Bắc Ninh, đã đỗ 6 khoa tú tài, được chấm đỗ hội nguyên, Vũ Duy Thanh đứng thứ nhì .
Khi vào thi đình, Vũ Duy Thanh được 8 phân, mà Vũ Huy Dực được có 6, thành ra Vũ Duy Thanh đỗ bảng nhỡn trị trạng nguyên, Vũ Huy Dực đỗ thám hoa; vì thế nên thường gọi Vũ Duy Thanh là cụ bảng Kim Bồng . Triều Nguyễn không lấy trạng nguyên, kể khoa bảng ông cao hơn mọi người .
Ông tư chấ cực thông minh, phàm sách đã trông qua một lượt là nhớ, lại có tài ứng đối mẫn tiệp .
Ngày con đi học, gặp năm nước sông lên to, tri phủ Yên Khánh về đốc dân hộ đê, ông đi ngang qua đó, lính bắt phải xuống khiêng đất, ông xin miễn lấy cớ là học trò yếu ớt .
Tri phủ nói:
- Nếu thực là học trò, ta ra cho câu đối:
Quan thị đắp đê Kim Bồng, chắn hồng thủy cho dân được cậy
Ông ứng khổi đối ngay:
Nhà nho đỗ khoa bảng nhãn, quyết tranh khôi, thì chí mới cam
Câu ra dụng ý dùng bốn thứ quả: thị, hồng, bồng, cậy (chữ thị: tri phủ nguyên là hàm thị độc).
Câu đối lại có bốn thứ quả: nho, nhãn, chanh, cam .
Lúc đối là ngẫu nhiên, cốt đối cho đúng lệ mà thôi, ai ngờ về sau ông đỗ bảng nhãn, thành ra câu đối có vẻ ứng nghiệm như lời thi sấm, nên mới được truyền tụng .
Khi đỗ bảng nhãn ông đã 45 tuổi, được bổ vào Tập Hiền Viện, rồi thăng chức Quốc Tử Giám tế tửu .
Gặp năm tế Nam Giao, ông xung vào chức bồi tự, phàm các quan dự tế, mỗi người phải nghĩ một câu đối để viết vào đàn giao . Câu của ông:
Chí thành tùy địa hữu vu, như tại kỳ thượng, tại kỳ tả hữu,
Thánh đức dữ thiên vô gián, nhi huống ư nhân, huống ư quỷ thần .
- Chữ Trung dung: lòng thành tùy chốn nào, cũng có cảm tin như là thần minh ở trên,và ở tả hữu
- Chữ Kinh Dịch: đức nhà vua đối với trời không xa cách (gián đoạn) huống chi người và quỷ thần .
Vua Tự Đức ban khen .
Một hôm vua hỏi:
- Trẫm muốn thăng chức cho khanh, tùy ý khanh chọn chức gì .
Ông tâu:
- Thần chỉ muốn ở gần kinh khuyết; được trông thấy thánh quang luôn luông, vậy nên xin giữ chức tế tửu để rèn luyện học trò, là thoả nguyện .
Vua chiều ý, để làm tế tửu mãi đến lúc mất .
Năm Tự Đức 12 (1859), Pháp đánh lấy cửa Đà Nẵng và ba tỉnh Nam Kỳ, ông thấy khí giới lợi hại, và tàu bè vận chuyển nhanh chóng, bèn nghĩ chế một chiếc thuyền, chạy bằng hơi nước, đem cho chạy thử ở cửa Thuận: tuy máy móc không bằng người Âu, nhưng về sáng kiến, ông tỏ ra là người có óc khoa học .
Lúc vào chấm trường ở Bình Định, qua đèo Hải Vân, phải trèo nhiều đồi núi, đường đi vất vả, trong khi nằm trên cáng, ông làm bài thơ tập thơ cổ :
Vân khởi cao đài nhật vị trầm (Liễu Tôn Nguyên)
Đạm yên sơ khánh tản không tâm (Lưu Sương)
Tam xuân nguyệt chiếu thiên sơn lộ (Ôn Đình Quân)
Lục mạc thiên không vạn lý tâm (Hồ Túc)
Tử dản thượng thiêm hoàng chỉ án (Ngô Dung)
Ngọc thư ứng niệm tố trần xâm (Lý Quần Ngọc)
Nhất danh sở hệ vô cùng sự (Tiết Phùng)
Nhật mộ liêu vi Lương Phủ ngâm (Đỗ Phủ)
Bài này lấy trong Đường thi, trích mỗi bài một câu, hợp lại 8 câu thành bài .
Bốn câu trên tả cảnh núi buổi chiều
Bốn câu dưới nói tâm sự mình
- Khi lên núi, thấy mây đùn ở núi lên, mà mặt trời chưa lặn
- Lúc ấy sương đã xuống, nghe thấy tiếng khánh ở rừng xa đưa lại
- Bóng trăng về tháng ba soi rõ đường núi
- Tấc lòng bâng khuâng nghĩ khắp muôn dặm và sáu cõi ở trong trời đất
- Nghĩ mình đã được thẻ tía, lại thêm giấy vàng (ơn vua)
- Tờ ngọc thư là vật quý, chỉ sợ bụi làm nhơ (sao cho giữ được tiết trong sạch)
- Chỉ vì cái danh mà phải ràng buộc
- Nên buổi chiều thường đọc bài thơ Lương Phủ (Khổng Minh lúc còn ẩn ở Long Trung hay ngâm bài này) .
Dịch nôm
Mây phủi đài cao bóng ác tà
Khánh đâu rừng vắng vẳng nghe qua
Ba xuân trăng tỏ nghìn non quạnh
Sáu cõi trời cao vạn dặm xa
Ân nặng bao phen tờ dụ xuống
Tình riêng những ngại bụi đời nhơ
Cái danh ràng buộc thêm nhiều việc
Khúc cũ ngâm tràn luống ngẩn ngơ ...
Lúc nhàn rồi ông cao hứng vịnh bài thơ "Phong Hoa Tuyết Nguyệt":
Thi đàn tế liễu lộng hoa hài
Khách bộ tùy sương, ấn bích đài
Kỳ cục đả phong thanh áp trận
Tửu biều nghinh tuyết bạch hòa bôi
Sơ liêm thấu nguyệt hương ly cúc
Yến tịch lăng hoa vị át mai
Phi phất lĩnh đầu chiêm tĩnh điếm
Thi đàn tế liêu lộng hoa hài
- Đi hài hoa đến thi đàn, qua dặng liễu nhỏ
- Lốt giầy khách đi sớm, in trên rêu biếc
- Nhân lúc gió mát đánh cuộc cờ
- Có tuyết xuống nghiên bầu rượu uống
- Vườn cúc bóng trăng soi qua rèm thưa
- Mùi hương hoa mai đưa vào tiệc yến
- Phất phơ gió thổi qua điếm vắng trên đỉnh núi
- Đi hài hoa đến thi đàn, qua dặng liễu nhỏ
Bài này tài tình, đọc xuôi là thơ chữ Hán, đọc ngược từ dưới lên trên theo lối đọc chữ nôm thì lại thành thơ quốc văn:
Giầy hoa lỏng lẻo tới đàn thơ
Điếm tạnh xem đầu núi phất phơ
Mai át mùi hoa lừng tiệc yến
Cúc lìa hương nguyệt thấu rèm thưa
Chén hoà bạch tuyết nghiêng bầu rượu
Trận áp thanh phong đánh cuộc cờ
Rêu biếc in sương theo bước khách
Giầy hoa lỏng lẻo tới đàn thơ .
Năm Tự Đức XII 91859) vua sai Nguyễn Tri Phương vào quân thứ Nam Kỳ, để chống giữ với người Pháp, Nguyễn với ông vốn là bạn tâm giao, nên khi lâm hành, ông có tiễn bài thơ:
Nước non xưa vẫn nước non này:
Cõi bắc ngàn nam suốt một dây
Ba tỉnh cát lầm đương rộn nỗi
Chín lần gươm báu phải trao tay
Đẩy xe vâng chỉ không dong giặc
Truyền hịch ra quân sớm định ngày
Cờ tía những mong tin báo tiệp
Tên ghi gác khói, tượng đài mây ...
- Khói là yên, mây là vân . Nhà Hán, những công thần được khắc tên và vẽ tượng ở Lăng Yên Các và Vân Đài .
Lúc ở Quốc Tử Giám, thường có một người đến chơi, không nói tên họ, chỉ xưng là Bình Sơn Thi Khách, xướng họa thi văn với ông rất là tương đắc .
Một hôm vào khoảng thánh hai, Bình sơn đến nhà, ông đi vắng, khách để lại mấy chữ:
Nhất giáp nhất danh kim bảng quý
Tứ nguyệt tứ nhật ngọc lâu thành
Từ đấy không thấy Bình Sơn trở lại . Đến ngày mồng 4 tháng 4 năm ấy ông từ trần . Bấy giờ mới hiểu câu Tứ nguyệt tứ nhật ngọc lâu thành .
Sau khi từ trần, giám thần dâng sớ lên, vua Tự Đức châu phê : Khả mẫn gia tuất tiền bách (khá thương gia ân cho 100 quan tiền), và cho đưa quan tài về quê ở Ninh Bình, tư cho đi qua tỉnh nào, các học quan tỉnh ấy đều phải phúng điếu . Các quan ở Kinh có câu đối viếng:
Cửu nguyên di hận Trà Sơn úc
Thiên lý quy hồn Thuý Lĩnh phong
- Chín suối còn di hận ở vùng núi Trà sơn (thuộc Đà Nẵng): Lúc Pháp đánh cửa Đà Nẵng, ông có dâng sớ xin tòng quân, nhưng vua không cho .
- Du hồn về núi Thúy sơn, đường xa nghìn dặm (Thuý sơn thuộc Ninh Bình).
Câu đối của bảng nhãn Phạm Thanh:
Nhân bảo đương vi thiên hạ tích
Hoạn tình năng động cửu trùng lân
- Người quý nay mất đi, thiên hạ đều tiếc
- Tính làm quan thanh bạch, cửu trùng cũng thương
Câu đối của nội các Vũ Phạm Khải:
Đông canh đồng thuận, đồng tính thị châu lư, vãn bối suy quân tiêu vật vọng
Thử cảnh thử tình, thử giang sơn bi kiệt, tích hiền tiên ngã ký sầu ngâm
- Cùng tuổi, cùng học, cùng họ lại cùng tỉnh, những học trò lớp sau đều tôn trọng ông là bực tiêu biểu: ông Khải chỉ đỗ cử nhân nên mong học trò lớp sau, đỗ được cao như ông bảng .
- Tình ấy, cảnh ấy, núi sông ấy và bia đá ấy, người hiền xưa đã trước ta, gửi tiếng sầu ngâm: người xưa, chỉ Trương Hán Siêu, vì Trương làm bài văn bia Linh Tế Tháp, ông Bảng có bài Bình Linh Tế Tháp, việc văn chương có can hệ đến mối sầu cảm .
TRẦN CAO VÂN
Người làng Phú Cứ, phủ Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam.
Khoảng tháng 9 năm 1915 cùng bạn đồng chí Thái Phiên mưu việc tiếp xúc với vua Duy Tân để mời vua tham gia cuộc khởi nghĩa do Việt Nam Quang Phục hội đề xướng chống Pháp.
Hai người đưa Phan hữu Khánh vào làm tài xế trong nội, rồi uỷ Khánh đưa một bức thư đề cập đến thảm cảnh của toàn dân và ý định phục quốc.
Vua rất cảm động, hẹn ngày 12 tháng 3 Âm lịch ( 1916 ), sẽ hội kiến trên Ngự hà, vua sẽ ngồi câu còn Trần cao Vân và Thái Phiên giả làm người đi câu.
Sau đó ít lâu, trong cuộc họp của Quang Phục hội lần thứ 2 tại Huế, Thái Phiên được bầu làm chủ tịch và Trần cao Vân làm quân sư trong uỷ ban khởi nghĩa.
Cuộc khởi nghĩa ấn định vào giờ ngọ, ngày ngọ và tháng ngọ, tức là ngày mồng 2 tháng 5 năm Bính Thìn ( 8-6-1916 ). Hiệu lệnh được ban bố bằng bài thơ sau đây ( Hiệu lệnh cách mạng mà làm thành thơ, thật rõ là cái phong độ nhà Nho )
Hỏa xa Huế Hàn.
Một mối xa thơ đã biết chưa?
Nam Bắc hai ngả gặp nhau vừa.
Đường rầy đã sẵn thang mây bước.
Ống khói càng cao ngọn gió đưa.
Sấm dậy tứ bề trăm máy chuyển.
Phút thâu muôn dặm nửa giờ trưa.
Trời sai ra dọn xong từ đấy.
Một mối xa thơ đã biết chưa?
Nhưng sau, vì sợ bị tiết lộ phải khởi sự sớm hơn một tháng: tức là đêm mồng 2 tháng 4 năm Bính Thìn ( 3-5-1916 ). Tuy vậy mà từ chiều mồng 1, Pháp được tin báo nên đề phòng rất ngặt.
Trần cao Vân và Thái Phiên không ngờ vực gì cả, cứ làm đúng theo kế hoạch, vừa đưa vua ra khỏi hoàng thành. Chạy đến đàn Nam Giao thì vua và Thái Phiên bị bắt. Trần cao Vân cũng bị bắt sau đó tại làng Hà Trung, huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên.
Ngày 17 – 5 – 1916, Trần cao Vân cùng Thái Phiên, Phan hữu Khánh và mấy người lính hầu vua Duy Tân bị đem ra hành hình tại An Hoà, phía tây bắc thành nội Huế.
Tương truyền, trước khi bị giết, Trần cao Vân đã khẩu chiếm bài thơ sau đây:
Đứa nào muốn chết, chết như chơi.
Chết vị non sông, chết vị trời.
Chết thảo, bao nài xương thịt nát.
Chết ngay, há ngại cổ đầu rơi.
Chết trung, tiếng để ngoài muôn dặm.
Chết nghĩa, danh lưu đến vạn đời.
Chết được như vầy là hả lắm.
Ta không sợ chết hỡi ai ơi!
Khoảng tháng 9 năm 1915 cùng bạn đồng chí Thái Phiên mưu việc tiếp xúc với vua Duy Tân để mời vua tham gia cuộc khởi nghĩa do Việt Nam Quang Phục hội đề xướng chống Pháp.
Hai người đưa Phan hữu Khánh vào làm tài xế trong nội, rồi uỷ Khánh đưa một bức thư đề cập đến thảm cảnh của toàn dân và ý định phục quốc.
Vua rất cảm động, hẹn ngày 12 tháng 3 Âm lịch ( 1916 ), sẽ hội kiến trên Ngự hà, vua sẽ ngồi câu còn Trần cao Vân và Thái Phiên giả làm người đi câu.
Sau đó ít lâu, trong cuộc họp của Quang Phục hội lần thứ 2 tại Huế, Thái Phiên được bầu làm chủ tịch và Trần cao Vân làm quân sư trong uỷ ban khởi nghĩa.
Cuộc khởi nghĩa ấn định vào giờ ngọ, ngày ngọ và tháng ngọ, tức là ngày mồng 2 tháng 5 năm Bính Thìn ( 8-6-1916 ). Hiệu lệnh được ban bố bằng bài thơ sau đây ( Hiệu lệnh cách mạng mà làm thành thơ, thật rõ là cái phong độ nhà Nho )
Hỏa xa Huế Hàn.
Một mối xa thơ đã biết chưa?
Nam Bắc hai ngả gặp nhau vừa.
Đường rầy đã sẵn thang mây bước.
Ống khói càng cao ngọn gió đưa.
Sấm dậy tứ bề trăm máy chuyển.
Phút thâu muôn dặm nửa giờ trưa.
Trời sai ra dọn xong từ đấy.
Một mối xa thơ đã biết chưa?
Nhưng sau, vì sợ bị tiết lộ phải khởi sự sớm hơn một tháng: tức là đêm mồng 2 tháng 4 năm Bính Thìn ( 3-5-1916 ). Tuy vậy mà từ chiều mồng 1, Pháp được tin báo nên đề phòng rất ngặt.
Trần cao Vân và Thái Phiên không ngờ vực gì cả, cứ làm đúng theo kế hoạch, vừa đưa vua ra khỏi hoàng thành. Chạy đến đàn Nam Giao thì vua và Thái Phiên bị bắt. Trần cao Vân cũng bị bắt sau đó tại làng Hà Trung, huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên.
Ngày 17 – 5 – 1916, Trần cao Vân cùng Thái Phiên, Phan hữu Khánh và mấy người lính hầu vua Duy Tân bị đem ra hành hình tại An Hoà, phía tây bắc thành nội Huế.
Tương truyền, trước khi bị giết, Trần cao Vân đã khẩu chiếm bài thơ sau đây:
Đứa nào muốn chết, chết như chơi.
Chết vị non sông, chết vị trời.
Chết thảo, bao nài xương thịt nát.
Chết ngay, há ngại cổ đầu rơi.
Chết trung, tiếng để ngoài muôn dặm.
Chết nghĩa, danh lưu đến vạn đời.
Chết được như vầy là hả lắm.
Ta không sợ chết hỡi ai ơi!
TỐNG DUY TÂN
Người làng Bồng Trung tỉnh Thanh Hoá, đỗ Tiến sĩ đời Tự Đức, làm đến Đốc học rồi cáo quan về.
Lúc ông còn ở nhà dạy học có câu đối:
Cố bất như: sơn nhi bích, truyền nhi trì, vân thủy tiêu dao trần cảnh ngoại.
Duy kỳ hữu: dữu khả phong, đình khả nguyệt, cúc tùng tự tại cố châu trung.
- Không gì bền bằng: lấy núi làm vách, lấy suối làm ao, mây nước nhởn nhơ ngoài cõi thế.
- Chỉ riêng vui có: cửa sổ gió mát, ngoài sân trăng soi, cúc tùng thong thả chốn cố châu.
Sau có một dạo, ông chán mùi tục luỵ, vào ẩn chốn thâm sơn, làm bài thơ tự thuật cho khắc vào sườn non.
Thắng cảnh trùng du chu nhất thiên.
Phong quang hồi thủ tứ vô biên.
Mai thê hạc tử, viên thành thú.
Nguyệt tỷ phong di, khế túc duyên.
Ngũ sắc văn thành, vân động khẩu.
Cửu thành nhạc tấu, điểu sơn điên.
Sơn hà phong cảnh, kim như tạc.
Ưng biểu thi chương, thạch thượng truyền.
Bản dịch của Nhân phủ:
Cảnh cũ qua chơi một chiếc thuyền.
Phong quang ngảnh lại tứ vô biên.
Vợ mai con hạc quen thành thú.
Chị gió dì trăng vốn túc duyên.
Năm sắc vân nên, bay cửa động.
Chín thành nhạc tấu vẳng non tiên.
Núi sông phong cảnh còn như trước.
Tạm mấy vần thơ khắc đá truyền.
Sau năm Ất Dậu ( 1885 ), đứng đầu đảng Cần Vương ở Thanh Hóa, cùng Đinh công Tráng thành lập chiến khu ở Ba Đình. Ba Đình thất thủ ( 1887 ) chạy ra Bắc, đến năm 1889 lại trở về Thanh Hoá lãnh đạo cuộc kháng chiến ở huyện Nông Cống được hơn một năm thì bị bắt. Bị xử tử ngày 3 – 9 – 1892, tại Thanh Hóa.
more...
Lúc ông còn ở nhà dạy học có câu đối:
Cố bất như: sơn nhi bích, truyền nhi trì, vân thủy tiêu dao trần cảnh ngoại.
Duy kỳ hữu: dữu khả phong, đình khả nguyệt, cúc tùng tự tại cố châu trung.
- Không gì bền bằng: lấy núi làm vách, lấy suối làm ao, mây nước nhởn nhơ ngoài cõi thế.
- Chỉ riêng vui có: cửa sổ gió mát, ngoài sân trăng soi, cúc tùng thong thả chốn cố châu.
Sau có một dạo, ông chán mùi tục luỵ, vào ẩn chốn thâm sơn, làm bài thơ tự thuật cho khắc vào sườn non.
Thắng cảnh trùng du chu nhất thiên.
Phong quang hồi thủ tứ vô biên.
Mai thê hạc tử, viên thành thú.
Nguyệt tỷ phong di, khế túc duyên.
Ngũ sắc văn thành, vân động khẩu.
Cửu thành nhạc tấu, điểu sơn điên.
Sơn hà phong cảnh, kim như tạc.
Ưng biểu thi chương, thạch thượng truyền.
Bản dịch của Nhân phủ:
Cảnh cũ qua chơi một chiếc thuyền.
Phong quang ngảnh lại tứ vô biên.
Vợ mai con hạc quen thành thú.
Chị gió dì trăng vốn túc duyên.
Năm sắc vân nên, bay cửa động.
Chín thành nhạc tấu vẳng non tiên.
Núi sông phong cảnh còn như trước.
Tạm mấy vần thơ khắc đá truyền.
Sau năm Ất Dậu ( 1885 ), đứng đầu đảng Cần Vương ở Thanh Hóa, cùng Đinh công Tráng thành lập chiến khu ở Ba Đình. Ba Đình thất thủ ( 1887 ) chạy ra Bắc, đến năm 1889 lại trở về Thanh Hoá lãnh đạo cuộc kháng chiến ở huyện Nông Cống được hơn một năm thì bị bắt. Bị xử tử ngày 3 – 9 – 1892, tại Thanh Hóa.
more...
PHAN VĂN TRỊ (Cử Trị)
Sinh năm Canh Dần (1830), tại làng Hanh Thông, tỉnh Gia Định. Hai mươi tuổi đỗ cử nhân ( Kỷ Dậu, Tự Đức 2 1849 ) nên thường gọi là Cử Trị. Thang mây sẵn bước, có thể ruổi dong trên hoạn lộ một cách dễ dàng, nhưng tính khí ngang tàng, không chịu bó buộc, mặc dầu sống trong gia đình thanh bạch: ông lấy việc dạy học và bốc thuốc làm phương độ nhật. Khi quân Pháp gây hấn ở Gia Định (1862), ông tránh xuống Vĩnh Long kết giao với Nguyễn đình Chiểu và Huỳnh mẫn Đạt. Năm 1867, Vĩnh Long lọt vào tay Pháp, ông cảm khái thốt ra lời thơ đau đớn trước sự bất lực của triều đình:
Vĩnh Long thất thủ.
Tò tè kèn thổi, tiếng năm ba…
Nghe lọt vào tai ruột xót xa.
Uốn khúc sông Rồng mờ mịt khói.
Vắng hoe thành Phụng ủ rầu hoa.
Tan nhà, căm nỗi câu ly hận.
Cắt đất, thương thay cuộc giảng hoà.
Gió bụi đòi cơn xiêu ngã cỏ.
Ngậm cười, hết nói nỗi quan ta!
Từ đó, ông thường mượn thi văn để tỏ lòng phẫn uất về cảnh nước mất nhà tan, chỉ trích những người hợp tác với Pháp, lời lẽ đanh thép và ngạo nghễ.
Dưới đây là bài thơ tả tâm sự kẻ sĩ phu đứng trước quốc nạn.
Cảm hoài.
Cõi Nam chung hưởng cuộc thăng bình.
Trời đất gây nên cuộc chiến tranh.
Xe ngựa rộn ràng, xe ngựa khách.
Nước non vun quén, nước non mình.
Những trang dụng thế đành ngơ mặt.
Mấy gã trung quân nỡ phụ tình!
Bao thuở đem về cơ nhất thống.
Ngàn thu bia tạc đấng trung trinh….
Phong trần lắm lúc luống sầu riêng.
Biết mượn tay ai gỡ nỗi phiền?
Áo mũ ba đời, ơn rất trọng.
Can qua một cuộc, nghĩa chưa tuyền.
Trớ trêu con tạo lòng đa xảo.
Tráo trở anh hùng buổi thiếu niên.
Phất phới bụi hồng đà trải dấu.
Tâm tình chiều uốn thú hàn thuyên.
Tay nâng, há dám một mình đây?
Kẻ Bắc, người Nam bấn dạ này.
Thế sự lăng xăng cờ túng nước.
Nhân tình tráo chác gió rung cây.
Giao hoà, bởi sợ mưu mô cạn.
Cắt đất, vì kiêng trí lực dày.
Ướm hỏi những ai trên đất Việt.
Tấm lòng thiết thạch há như vầy?
Tài năng chi đó khéo trêu ngươi.
Cái phận nam nhi luống nực cười.
Ngược đậu, xuôi đi, hiềm thế nước.
Sâu dầm, cạn vén, thuận tình đời.
Quan san dặm thẳng đường liền bước.
Tùng cúc vườn xưa cảnh nhớ người.
Tạo hoá một bàu xoay khí vận.
Đông qua xuân lại trở màu tươi…
Tổng đốc Trần bá Lộc nghe danh ông, nên khi qua Vĩnh Long cho lính đòi ông đến, ý muốn trừng trị thái độ ương ngạnh. Lộc bắt ứng khẩu làm một bài thơ. Ông xin cho đầu bài. Lộc vốn thô lỗ, buông lời tục tĩu:
- Cục cứt!
Ông đứng ngâm ngay bốn câu:
Đương cơn lộn xộn ló đầu ra.
Người thấy, ai mà chẳng sợ va!
Cậy thế, khom lưng ngồi dưới đít.
Biết đâu sắp bị chó liền tha!
Thơ tả đúng đầu đề, nhưng mỉa mai bao nhiêu cho cái uy quyền mượn của viên tổng đốc mới! Lộc nghe xong mắc cở đuổi về.
Cuộc xướng họa làm cho ông nổi tiếng nhất thời ấy, là cuộc bút chiến với Tôn thọ Tường.
Ông cùng các bạn Nguyễn đình Chiểu và Huỳnh mẫn Đạt, đứng vào phe bất hợp tác, còn Tôn ở phe hợp tác.
Tôn sinh năm 1825, cũng ở Gia Định. Thân phụ là Tôn thọ Đức, nguyên là tuần vũ Thuận Khánh ( Bình Thuận – Khánh Hoà ). Năm 30 tuổi, Tôn thi hương hỏng, bèn ra Huế, xin tập ấm là quan văn, bất đồ triều đình lại bổ sang ngành võ, Tôn bất mãn bỏ về. Đến năm 1862, triều đình nhượng cho Pháp 3 tỉnh miền đông, Pháp muốn lấy lòng dân, kêu gọi hợp tác của sĩ phu, Tôn vì sinh kế phải hưởng ứng, được Pháp trọng dụng cho làm tri phủ Tân Bình dần dần lên đến chức đốc phủ sứ.
Tôn ra hợp tác cho mình là thức thời. Thầm mong lôi cuốn bằng hữu cùng đi đường với mình, hay đâu các bạn từ đó quay mặt đi, ai cũng mỉa là tên bán nước.
Tôn bị cô lập lại bị mạt sát nặng nề, thấy tự hối hận, bởi trót mặc vào vòng rồi. Đành làm 10 bài thơ bào chữa cho mình và thanh minh với dư luận, nhan đề là “ Giang san ba tỉnh ”.
Mười bài này phổ biến ra, Cử Trị bèn làm 10 bài hoạ lại. dưới đây xin chép từng bài xướng hoạ, để thấy rõ lập trường của hai phái “ hợp tác” và “ bất hợp tác ”.
Bài 1.
Giang san ba tỉnh hãy còn đây.
Trời đất xui chi đến nỗi này?
Chớp nhoáng thẳng bong dây thép gió.
Mây tuôn đen kịt khói tàu bay.
Xăn văn thầm tính thương đôi chỗ.
Khấp khởi riêng lo, biết những ngày.
Miệng cọp, hàm rồng chưa dễ chọc.
Khuyên đàn con trẻ chớ thày lay!
Tôn khoa trương lực lượng Pháp: dây thép, tàu thủy, khuyên chớ làm như trẻ con chọc vào miệng cọp hàm rồng.
Bài họa.
Hơn thua chưa quyết đó cùng đây.
Chẳng đã nên ta mới thế này.
Bến Nghé quản bao cơn lửa cháy.
Cồn Rồng dầu mặc bụi tro bay.
Nuôi muông giết thỏ còn chờ thuở.
Bủa lưới săn nai cũng có ngày.
Đừng mượn hơi hùm rung nhát khỉ.
Lòng ta sắt đá há lung lay.
Cử Trị tả sự tàn bạo của kẻ xâm lăng “ Lửa thiêu Bến Nghé, tro bay Cồn Rồng ”. Nhưng mặc dầu vậy, ta cũng cứ kiên chí nuôi muông bủa lưới, có ngày giết thỏ săn nai, người đừng mượn hơi hùm mà rung cây cho khỉ sợ.
Bài 2.
Thày lay lại chuốc lấy danh nhơ.
Ai mượn mình lo chuyện bá vơ?
Trẻ dại, giếng sâu, lòng chẳng nỡ.
Đường xa, ngày tối, tuổi không chờ.
Áo xiêm chán thấy xăn tay thợ.
Xe ngựa nào toàn gỡ nước cờ.
Rủi rủi may may đâu đã chắc?
Miệng lằn lưỡi mối hãy tai ngơ!
Bày trò ra thì mang xấu, lo chuyện bâng quơ làm gì: ta thấy giếng sâu, không nỡ cho trẻ lao mình xuống, vả đường xa ngày tối, đi sao cho kịp? Cứ xem các quan ta cố chống trả mà có gỡ được nước cờ đâu? Vậy đừng nên nghe lời xúi dại.
Bài họa.
Lung lay lòng sắt đã mang nhơ.
Chẳng xét phận mình khéo nói vơ!
Người trí mảng lo danh chẳng chói.
Đứa ngu mới sợ tuổi không chờ.
Bài hoà đã sẵn in tay thợ.
Việc đánh hơn thua giống cuộc cờ.
Chưa trả thù nhà đền nợ nước.
Dám đâu mắt lấp lại tai ngơ!
Tôn muốn lung lạc người trí thức, ấy là xấu rồi: trí chỉ lo trọn đạo, ngu mới hành động hấp tấp, ăn xổi ở thì. Bây giờ giảng hoà là ta thua rồi, nhưng đó đã chắc được chưa, chúng ta không thể làm ngơ trước thù nhà nợ nước.
Bài 3.
Tai ngơ mắt lấp buổi tan tành.
Nghĩ việc đời thêm hổ việc mình.
Nghi ngút tro tàn nhà đạo nghĩa.
Lờ mờ bụi đóng cửa trâm anh.
Hai bên vai gánh ba giềng nặng.
Trăm tạ chuông treo sợi chỉ mành.
Trâu ngựa dầu kêu, kêu cũng chịu.
Thân còn chẳng kể, kể chi danh!
Cũng vì tan tành nên không ngơ được: nền lễ giáo đã mất, ta vẫn phải cứu vãn lại nhưng việc thật khó khăn: quả chuông trăm tạ treo bằng sợi chỉ. Thôi thì bảo ta là trâu ngựa ta cũng chịu, ta ra cộng tác thế này còn nghĩ gì đến thân danh nữa; cốt cứu được nước mà thôi.
Bài họa.
Tai ngơ sao được lúc tan tành.
Luống biết trách người chẳng trách mình.
Đến thế còn khoe danh đạo nghĩa.
Như vầy cũng gọi cửa trâm anh.
Khe sâu vụng tính dung thuyền nhỏ.
Chuông nặng to gan buộc chỉ mành.
Thân có, ắt danh tua phải có.
Khuyên người biết trọng cái thân danh.
Muốn trách người phải trách mình trước. Đã cộng tác thì đừng nói đến đạo nghĩa, trâm anh là gì. Chúng ta đã trót vụng tính để thuyền nhỏ lọt vào khe sâu, thì phải có gan treo chuông bằng chỉ, ấy là bảo trọng thân danh đấy.
Bài 4.
Kể chi danh phận lúc tan hoang.
Biển rộng trời cao nghĩ lại càng…
Lên núi bắt hùm chưa dễ láo.
Vào sông đánh cá, há rằng oan.
Người giương mắt ngạo đôi tròng bạc.
Kẻ ứa gan trung bảy lá vàng.
Chiu chít thương bấy gà mất mẹ
Cũng là gắng gỏi, dám khoe khoang!
Lúc này kể gì danh phận nữa, nhưng nghĩ vì chống Pháp cũng như lên núi bắt hùm, vào sông đánh cá, nguy hiểm bao nhiêu. Các ông chỉ trích tôi, thật đau đớn cho tôi: vì tôi thương gà con mất mẹ, nên mới gắng ra gánh vác việc nước.
Bài họa.
Thân danh chẳng kể, thiệt thằng hoang…
Đốt sáp nên tro lụy chẳng còn..
Hai cửa trâm anh xô sấp ngửa.
Một nhà danh giáo xáo tan hoang.
Con buôn khấp khởi chưa từng ngọc.
Người khó xăn văn mới gặp vàng.
Thương kẻ đồng văn nên phải nhắc.
Dễ ta đâu dám tiếng khoe khoang.
Thân danh mà không đếm xỉa đến, thật là vô liêm sỉ. Khá thương cho kẻ đốt sáp thành tro, làm điếm nhục đến gia thanh. Chỉ trông thấy ngọc đã loé mắt, không biết rằng có chịu khổ sở mới thành công. Vì ông cũng là trong mạch thư hương nên mới nói mà thôi.
Bài 5.
Khoe khoang sức giỏi cậy tài khôn.
Múa mép khua môi cũng một phồn.
Tơ vần cánh ruồi kinh trí nhện.
Gió đưa hơi cọp khiếp oai chồn.
Siêng lo há đợi cơm kề miệng.
Chậm tính nào ngờ nước đến trôn.
Hay dở chuyện đời còn lắm lối.
Múa men xin hãy chớ bôn chôn.
Thôi đừng ba hoa nữa: sức các ông như cánh ruồi mà định làm cho nhện sợ; như lũ chồn, ngửi thấy hơi cọp là run. Nếu biết lo thì chẳng nên đợi ai đưa cơm kề miệng cho mình; nước đến trôn lúc nào không biết….
Bài hoạ.
Khoe khoang việc phải mới rằng khôn.
Kẻ vạy người ngay há một phồn.
Hồng dẫu hư lông đâu sợ sẻ.
Hùm như thất thế dễ thua chồn.
Người Nhan xá ngại dao kề lưỡi.
Họ Khuất nào lo nước đến trôn.
Tháy máy gặp thời ta sẽ động.
Muốn nên việc lớn chớ bôn chôn.
Kẻ trái người ngay sao lại vơ đãu cả nắm? Chim hông tuy mất ít long đâu có sợ chim sẻ, hùm mà thất thế há thua chồn. Nhan cửu Khanh đời Đường bị giặc bắt, chửi giặc, giặc đem cắt lưỡi, vẫn không hề sợ. Khuất Nguyên can vua Sở, biết vua sẽ ghét mình sẽ nguy, nhưng cũng không lo. Hễ cơ hội đến là ta sẽ hành động.
Bài 6.
Hãy chớ bôn chôn việc cửa nhà.
Sau này còn ngại nỗi đường xa.
Ma duồng cơn ngặt lung hai trẻ
Trời mỏi lòng thương xót một già.
Lái đã vững vàng cơn sóng lượn.
Thoi toan đan dệt lúc mưa sa.
Ở đời há dễ quên đời được.
Tính thiệt so hơn cũng gọi là…
Đường xa còn nhiều trở ngại lắm. Nước ta ví như người già trời còn thương, nhưng mà hai trẻ cứ giục chết cho mau. Cơn sóng lượn nay ta đã cầm lái vững, ta lại lo dệt áo phòng mưa nữa. Phải suy hơn thiệt, chớ đừng mai mỉa không công bằng.
Bài họa.
Bôn chôn cũng bởi bận vì nhà.
Dám trách người xưa chửa tính xa?
Hăm hở hãy đang hăng sức trẻ.
Chìu lòn e cũng mỏn hơi già.
Mồi thơm cá quý câu không nhạy.
Cung yếu chim cao bắn chẳng xa.
Đáy giếng trông trời giương mắt ếch.
Làm người như vậy cũng rằng là…
Đâu dám trách ông nông nổi: thanh niên đang hăm hở, còn ông thì lòn cúi cũng hết hơi. Ông muốn dụ chúng tôi, nhưng mồi thơm không câu được cá quý, cung yếu không bắn được chim cao. Ông không biết ngó xa trông rộng, như thế không xứng đáng là kẻ sĩ.
Bài 7.
Cũng gọi là người ắt phải lo.
Có hay chịu khó mới nên trò.
Bạc mông mênh biển cầu toan bắc.
Xanh mịt mù trời thước rắp đo.
Nước ngược chống lên thuyền một mái.
Gác cao bó lại sách trăm pho.
Lòng này dẫu hỏi mà không hổ.
Lặng xét thầm soi cũng biết cho.
Người ta phải thực tế không nên viễn vông, bắc cầu trên biển, lấy thước đo trời. Tiếc thay tình thế ngửa nghiêng mà tôi như thuyền một mái, trong khi các ông chỉ ngồi cao xem sách. Tôi tự xét không hổ với mình, đã có trời xét cho.
Bài họa.
Rằng là người trí cũng xa lo.
Nhuần nhã kinh luân mới phải trò.
Ngay vạy nảy ra cho biết mực.
Thấp cao trông thấy há rằng đo.
Xe Châu nào đợi kinh năm bộ.
Níp Tống vừa đầy sách nửa pho.
Chuốc miệng khen người nên cắc cớ:
Đạo trời ghét vạy há soi cho!
Đã là người trí thì phải lo xa, phải cư xử cho đúng đạo thánh hiền. Ai cong ai ngay, ai cao ai thấp, cần gì phải nói. Tôi cũng học nông nổi thôi, nhưng khuyên ông nên ở phải, đạo trời đâu có soi cho kẻ cong queo.
Bài 8.
Đã biết cho chưa hỡi những người.
Xin đừng tiếc hận, chớ chê cười.
Ví dầu vật ấy còn roi dấu.
Bao quản thân này chịu dễ ngươi.
Trăng giữa ba thu mây cũng tỏ.
Hoa trong chín hạ nắng càng tươi.
Khó lòng mình biết lòng mình khó.
Lòn lỏi công trình kể mấy mươi.
Xin đừng chê cười: các ông khinh tôi cũng chẳng ngại, miễn là nước vẫn còn. Rồi ra trắng sáng thì mây mờ; hoa tàn gặp nắng thì tươi, chỉ mình tôi biết cho tôi là công trình luồn lỏi đã nhiều cũng vì thương nước thương dân.
Bài họa.
Soi cho cũng biết ấy là người.
Chẳng tiếc thân danh, luống sợ cười.
Ba cõi may dầu in lại cũ.
Đôi tròng trông đã thấy không ngươi.
Ngọc lành nhiều vết coi không lịch.
Thơ vụng ít màu nhuộm chẳng tươi.
Đứa dại trót đời, già cũng dại.
Lựa là tuổi mới một đôi mươi.
Ông kể cũng lạ, chẳng tiếc than danh lại sợ chê cười! Nếu như đất nước thu về được, thì chẳng ai thèm nhìn đến ông, vì ngọc lành nhiều vết, thơ nhuộm vụng tay. Thật là già đời còn dại.
Bài 9.
Kể mấy mươi năm nước lễ văn.
Rắn dài, beo lớn, thế khôn ngăn;
Bốn đời, chung đội ơn nuôi dạy.
Ba tỉnh, riêng lo việc ở ăn.
Hết sức người theo trời chẳng kịp.
Hoài công chim lấp biển không bằng.
Phải sao chịu vậy thôi thì chớ.
Nhắm mắt đưa chân lỗi đạo hằng.
Tôi cũng bốn đời gia thế, nay một mình phải lo liệu cho đời sống dân ba tỉnh, tiếc rằng việc nước khó gỡ lại. Chim Tinh Vệ hoài công tha đá lấp biển không bằng, thôi thì nhắm mắt đưa chân, lỗi đạo đành chịu.
Bài họa.
Một đôi mươi uổng tính xăn văn.
Đất lở ai mà dễ dám ngăn?
Nong nả dốc vun nền đạo nghĩa.
Xốn xang nào tưởng việc làm ăn.
Thương người vì nước ngồi không vững.
Trách kẻ cầm cân kẻo chẳng bằng.
Gió xẵng mới hay cây cỏ cứng.
Dõi theo người trước giữ năm hằng.
Đã đành ngăn sao được đất lở, nhưng mà tính quẩn làm gì, lo gì việc làm ăn, hãy cốt giữ vững lấy đạo nghĩa. Ta những thương kẻ bôn ba lo việc nước và trách trời ở không công. Cây cỏ tuy yếu nhưng gió to mới biết là cứng; nên ở cho đúng đạo làm người thì hơn.
Bài 10.
Đạo hằng chi trước thảo cùng ngay.
Lỗi đạo sao cho đáng mắt thầy.
Đất quét đã đành bia lỗ miệng.
Chén tràn e nỗi trở bàn tay.
Nghĩa đen dạy trẻ tranh còn lấp.
Mặt trắng xem trời cánh khó bay.
Chí muốn ngày nào cho được toại?
Giang san ba tỉnh hãy còn đây!
Ai chẳng biết đạo thảo ngay, song đi với kẻ thắng đã đành là xấu, nhưng để nước tràn ra ngoài chén thì còn cứu vãn sao kịp; đem lời thực bảo cho mà không nghe thì các ông khó có cánh bay đâu được. Chí muốn của các ông bao giờ thành được? Mà đất có mất đâu: giang san hãy còn đây mà.
Bài họa.
Năm hằng vốn thiệt thảo cùng ngay.
Cuộc ấy ai xui khéo bận thầy.
Gặp lúc chẳng may nên ngậm miệng.
Chờ khi tháy máy sẽ ra tay.
Nổi chìm mặc thế tình dày mỏng.
Cao thấp dầu ta sức nhảy bay.
Một trận gió đưa xiêu ngã cỏ.
Hơn thua chưa quyết đó cùng đây.
Thật thế: đạo thảo ngay phải giữ, sao ông lại lo giùm cho người ta? Chúng ta gặp bước không may thì ngậm miệng chờ thời cuộc xoay vần. Dân tộc lầm than nhiều ít hãy nán lòng đợi, ta sẽ có lúc đem toàn lực tranh cao thấp. Cỏ bị gió thì ngã xuống, nhưng sự hơn thua đã biết chắc là về ai.
Sau cuộc bút chiến hào hứng này, Tôn không còn dám khoe lực lượng Pháp và coi nhân dân như trẻ nít nữa. Ông dựa vào hoàn cảnh để cãi tội: vì hoàn cảnh ông phải quyền biến chứ lúc nào chỉ một lòng cứu nước cứu dân. Ông ngụ tình vào bài:
Tôn phu nhân qui Hán.
Ngàn thu rạng tiết gái Giang Đông!
Lìa Ngô, bịn rịn chòm mây bạc.
Về Hán, trau tria mảnh má hồng.
Son phấn thà cam dày gió bụi.
Đá vàng chi để thẹn non sông.
Ai về nhắn với Chu Công Cẩn.
Thà mất lòng anh, được bụng chồng.
Tôn phu nhân đi lấy chồng lúc nào cũng nhớ nhà, như mình theo Tây mà vẫn không quên nước: bịn rịn chòm mây bạc. Tôn cũng như phu nhân thà chịu đau khổ, nhưng cũng làm vẻ vang cho nước: Son phấn thà cam dày gió bụi. Đá vàng chi để thẹn non sông.
Tuy có mất lòng anh, song được bụng chồng vì có thể đỡ đần được cho dân khỏi khổ.
Bài này truyền ra Cử Trị lại trả lời:
Cài trâm sửa ao vẹn câu tòng.
Mặt giã trời chiều biệt cõi Đông.
Khói toả vùng Ngô chen thức bạc.
Duyên xe về Thục đượm màu hồng.
Hai vai tơ tóc bền trời đất,
Một gánh cang thường nặng núi sông.
Anh hỡi, Tôn Quyền, anh có biết?
Trai ngay thờ chúa, gái thờ chồng!
Đại ý nói ông sắm sửa mũ áo theo Tây, mặc kệ cảnh khói lửa lầm than, tìm đến chỗ màu hồng đẹp đẽ, quên rằng cương thường không thể nào bỏ được: trai ngay thờ chúa cũng như gái trinh phải thờ chồng.
Sau đó Tôn lại làm một bài ngụ ý nữa, tự ví mình như Từ Thứ bất đắc dĩ phải theo Tào, nhưng không theo thật lòng nên chỉ ngậm miệng, không giúp Tào một mưu chước nào:
Từ Thứ quy Tào.
Thảo đâu dám sánh kẻ cày voi (1)
Muối xát lòng ai nấy mặn mòi.
Ở Hán hãy còn nhiều cột cả.
Về Tào chi xá một cây còi.
Buâng khuâng nhớ mẹ khôn nâng chén.
Bịn rịn trông vua biếng giở roi.
Chẳng đặng khôn Lưu đành dại Ngụy.
Thân này xin gác ngoại vòng thoi.
Ý nói mình không dám bảo mình cũng yêu nước như ai, song nước nhà còn nhiều người xứng đáng, thì một người xoàng như mình có theo Tây cũng chẳng đi đến đâu. Tuy theo những vẫn nhớ nước nhớ vua. Thôi thì chẳng được khôn với các ông thì về với Tây làm kẻ dại vậy, từ nay xin đứng ngoài vòng quốc sự.
Cử Trị đáp lời ngay:
Quá bị trên đầu nhát búa voi.
Kinh luân đâu nữa để khoe mòi!
Xăn văn ruổi Ngụy mây ùn đám.
Dáo dác xa Lưu gió thổi còi.
Đất Hứa nhớ thân sa giọt tủi.
Thành Tương mến chúa nhẹ tay roi!
Về Tào ngậm miệng như bình kín.
Trân trọng lời vàng đáng mấy thoi.
Các ông đã theo Pháp ùn ùn như mây kéo, tránh xa cái nước yếu này rồi, tuy thỉnh thoảng nhớ nước mà sa lệ, nhưng lúc ra đi mà tay roi đét ngựa lẹ thế? Ông hứa ngậm miệng không bày mưu gì cho Pháp, nhưng lời ông liệu đáng tin đến mực nào?
Cuộc bút chiến đến đây chấm dứt, vì từ đây Tôn ngậm miệng như bình kín, mặc cho sự thế xoay vần, miễn mình được lên xe xuống ngựa.
Tôn tạ thế năm 1876, thọ 52 tuổi.
Cử Trị sau về Cần Thơ, vẫn theo đuổi việc dạy học và bốc thuốc. Năm 1910 thì mất, thọ 81 tuổi.
……..
1. Vua Thuấn đi cày, có con voi cảm lòng hiều thảo của vua, ra dẫm nát đất để cày giúp.
Vĩnh Long thất thủ.
Tò tè kèn thổi, tiếng năm ba…
Nghe lọt vào tai ruột xót xa.
Uốn khúc sông Rồng mờ mịt khói.
Vắng hoe thành Phụng ủ rầu hoa.
Tan nhà, căm nỗi câu ly hận.
Cắt đất, thương thay cuộc giảng hoà.
Gió bụi đòi cơn xiêu ngã cỏ.
Ngậm cười, hết nói nỗi quan ta!
Từ đó, ông thường mượn thi văn để tỏ lòng phẫn uất về cảnh nước mất nhà tan, chỉ trích những người hợp tác với Pháp, lời lẽ đanh thép và ngạo nghễ.
Dưới đây là bài thơ tả tâm sự kẻ sĩ phu đứng trước quốc nạn.
Cảm hoài.
Cõi Nam chung hưởng cuộc thăng bình.
Trời đất gây nên cuộc chiến tranh.
Xe ngựa rộn ràng, xe ngựa khách.
Nước non vun quén, nước non mình.
Những trang dụng thế đành ngơ mặt.
Mấy gã trung quân nỡ phụ tình!
Bao thuở đem về cơ nhất thống.
Ngàn thu bia tạc đấng trung trinh….
Phong trần lắm lúc luống sầu riêng.
Biết mượn tay ai gỡ nỗi phiền?
Áo mũ ba đời, ơn rất trọng.
Can qua một cuộc, nghĩa chưa tuyền.
Trớ trêu con tạo lòng đa xảo.
Tráo trở anh hùng buổi thiếu niên.
Phất phới bụi hồng đà trải dấu.
Tâm tình chiều uốn thú hàn thuyên.
Tay nâng, há dám một mình đây?
Kẻ Bắc, người Nam bấn dạ này.
Thế sự lăng xăng cờ túng nước.
Nhân tình tráo chác gió rung cây.
Giao hoà, bởi sợ mưu mô cạn.
Cắt đất, vì kiêng trí lực dày.
Ướm hỏi những ai trên đất Việt.
Tấm lòng thiết thạch há như vầy?
Tài năng chi đó khéo trêu ngươi.
Cái phận nam nhi luống nực cười.
Ngược đậu, xuôi đi, hiềm thế nước.
Sâu dầm, cạn vén, thuận tình đời.
Quan san dặm thẳng đường liền bước.
Tùng cúc vườn xưa cảnh nhớ người.
Tạo hoá một bàu xoay khí vận.
Đông qua xuân lại trở màu tươi…
Tổng đốc Trần bá Lộc nghe danh ông, nên khi qua Vĩnh Long cho lính đòi ông đến, ý muốn trừng trị thái độ ương ngạnh. Lộc bắt ứng khẩu làm một bài thơ. Ông xin cho đầu bài. Lộc vốn thô lỗ, buông lời tục tĩu:
- Cục cứt!
Ông đứng ngâm ngay bốn câu:
Đương cơn lộn xộn ló đầu ra.
Người thấy, ai mà chẳng sợ va!
Cậy thế, khom lưng ngồi dưới đít.
Biết đâu sắp bị chó liền tha!
Thơ tả đúng đầu đề, nhưng mỉa mai bao nhiêu cho cái uy quyền mượn của viên tổng đốc mới! Lộc nghe xong mắc cở đuổi về.
Cuộc xướng họa làm cho ông nổi tiếng nhất thời ấy, là cuộc bút chiến với Tôn thọ Tường.
Ông cùng các bạn Nguyễn đình Chiểu và Huỳnh mẫn Đạt, đứng vào phe bất hợp tác, còn Tôn ở phe hợp tác.
Tôn sinh năm 1825, cũng ở Gia Định. Thân phụ là Tôn thọ Đức, nguyên là tuần vũ Thuận Khánh ( Bình Thuận – Khánh Hoà ). Năm 30 tuổi, Tôn thi hương hỏng, bèn ra Huế, xin tập ấm là quan văn, bất đồ triều đình lại bổ sang ngành võ, Tôn bất mãn bỏ về. Đến năm 1862, triều đình nhượng cho Pháp 3 tỉnh miền đông, Pháp muốn lấy lòng dân, kêu gọi hợp tác của sĩ phu, Tôn vì sinh kế phải hưởng ứng, được Pháp trọng dụng cho làm tri phủ Tân Bình dần dần lên đến chức đốc phủ sứ.
Tôn ra hợp tác cho mình là thức thời. Thầm mong lôi cuốn bằng hữu cùng đi đường với mình, hay đâu các bạn từ đó quay mặt đi, ai cũng mỉa là tên bán nước.
Tôn bị cô lập lại bị mạt sát nặng nề, thấy tự hối hận, bởi trót mặc vào vòng rồi. Đành làm 10 bài thơ bào chữa cho mình và thanh minh với dư luận, nhan đề là “ Giang san ba tỉnh ”.
Mười bài này phổ biến ra, Cử Trị bèn làm 10 bài hoạ lại. dưới đây xin chép từng bài xướng hoạ, để thấy rõ lập trường của hai phái “ hợp tác” và “ bất hợp tác ”.
Bài 1.
Giang san ba tỉnh hãy còn đây.
Trời đất xui chi đến nỗi này?
Chớp nhoáng thẳng bong dây thép gió.
Mây tuôn đen kịt khói tàu bay.
Xăn văn thầm tính thương đôi chỗ.
Khấp khởi riêng lo, biết những ngày.
Miệng cọp, hàm rồng chưa dễ chọc.
Khuyên đàn con trẻ chớ thày lay!
Tôn khoa trương lực lượng Pháp: dây thép, tàu thủy, khuyên chớ làm như trẻ con chọc vào miệng cọp hàm rồng.
Bài họa.
Hơn thua chưa quyết đó cùng đây.
Chẳng đã nên ta mới thế này.
Bến Nghé quản bao cơn lửa cháy.
Cồn Rồng dầu mặc bụi tro bay.
Nuôi muông giết thỏ còn chờ thuở.
Bủa lưới săn nai cũng có ngày.
Đừng mượn hơi hùm rung nhát khỉ.
Lòng ta sắt đá há lung lay.
Cử Trị tả sự tàn bạo của kẻ xâm lăng “ Lửa thiêu Bến Nghé, tro bay Cồn Rồng ”. Nhưng mặc dầu vậy, ta cũng cứ kiên chí nuôi muông bủa lưới, có ngày giết thỏ săn nai, người đừng mượn hơi hùm mà rung cây cho khỉ sợ.
Bài 2.
Thày lay lại chuốc lấy danh nhơ.
Ai mượn mình lo chuyện bá vơ?
Trẻ dại, giếng sâu, lòng chẳng nỡ.
Đường xa, ngày tối, tuổi không chờ.
Áo xiêm chán thấy xăn tay thợ.
Xe ngựa nào toàn gỡ nước cờ.
Rủi rủi may may đâu đã chắc?
Miệng lằn lưỡi mối hãy tai ngơ!
Bày trò ra thì mang xấu, lo chuyện bâng quơ làm gì: ta thấy giếng sâu, không nỡ cho trẻ lao mình xuống, vả đường xa ngày tối, đi sao cho kịp? Cứ xem các quan ta cố chống trả mà có gỡ được nước cờ đâu? Vậy đừng nên nghe lời xúi dại.
Bài họa.
Lung lay lòng sắt đã mang nhơ.
Chẳng xét phận mình khéo nói vơ!
Người trí mảng lo danh chẳng chói.
Đứa ngu mới sợ tuổi không chờ.
Bài hoà đã sẵn in tay thợ.
Việc đánh hơn thua giống cuộc cờ.
Chưa trả thù nhà đền nợ nước.
Dám đâu mắt lấp lại tai ngơ!
Tôn muốn lung lạc người trí thức, ấy là xấu rồi: trí chỉ lo trọn đạo, ngu mới hành động hấp tấp, ăn xổi ở thì. Bây giờ giảng hoà là ta thua rồi, nhưng đó đã chắc được chưa, chúng ta không thể làm ngơ trước thù nhà nợ nước.
Bài 3.
Tai ngơ mắt lấp buổi tan tành.
Nghĩ việc đời thêm hổ việc mình.
Nghi ngút tro tàn nhà đạo nghĩa.
Lờ mờ bụi đóng cửa trâm anh.
Hai bên vai gánh ba giềng nặng.
Trăm tạ chuông treo sợi chỉ mành.
Trâu ngựa dầu kêu, kêu cũng chịu.
Thân còn chẳng kể, kể chi danh!
Cũng vì tan tành nên không ngơ được: nền lễ giáo đã mất, ta vẫn phải cứu vãn lại nhưng việc thật khó khăn: quả chuông trăm tạ treo bằng sợi chỉ. Thôi thì bảo ta là trâu ngựa ta cũng chịu, ta ra cộng tác thế này còn nghĩ gì đến thân danh nữa; cốt cứu được nước mà thôi.
Bài họa.
Tai ngơ sao được lúc tan tành.
Luống biết trách người chẳng trách mình.
Đến thế còn khoe danh đạo nghĩa.
Như vầy cũng gọi cửa trâm anh.
Khe sâu vụng tính dung thuyền nhỏ.
Chuông nặng to gan buộc chỉ mành.
Thân có, ắt danh tua phải có.
Khuyên người biết trọng cái thân danh.
Muốn trách người phải trách mình trước. Đã cộng tác thì đừng nói đến đạo nghĩa, trâm anh là gì. Chúng ta đã trót vụng tính để thuyền nhỏ lọt vào khe sâu, thì phải có gan treo chuông bằng chỉ, ấy là bảo trọng thân danh đấy.
Bài 4.
Kể chi danh phận lúc tan hoang.
Biển rộng trời cao nghĩ lại càng…
Lên núi bắt hùm chưa dễ láo.
Vào sông đánh cá, há rằng oan.
Người giương mắt ngạo đôi tròng bạc.
Kẻ ứa gan trung bảy lá vàng.
Chiu chít thương bấy gà mất mẹ
Cũng là gắng gỏi, dám khoe khoang!
Lúc này kể gì danh phận nữa, nhưng nghĩ vì chống Pháp cũng như lên núi bắt hùm, vào sông đánh cá, nguy hiểm bao nhiêu. Các ông chỉ trích tôi, thật đau đớn cho tôi: vì tôi thương gà con mất mẹ, nên mới gắng ra gánh vác việc nước.
Bài họa.
Thân danh chẳng kể, thiệt thằng hoang…
Đốt sáp nên tro lụy chẳng còn..
Hai cửa trâm anh xô sấp ngửa.
Một nhà danh giáo xáo tan hoang.
Con buôn khấp khởi chưa từng ngọc.
Người khó xăn văn mới gặp vàng.
Thương kẻ đồng văn nên phải nhắc.
Dễ ta đâu dám tiếng khoe khoang.
Thân danh mà không đếm xỉa đến, thật là vô liêm sỉ. Khá thương cho kẻ đốt sáp thành tro, làm điếm nhục đến gia thanh. Chỉ trông thấy ngọc đã loé mắt, không biết rằng có chịu khổ sở mới thành công. Vì ông cũng là trong mạch thư hương nên mới nói mà thôi.
Bài 5.
Khoe khoang sức giỏi cậy tài khôn.
Múa mép khua môi cũng một phồn.
Tơ vần cánh ruồi kinh trí nhện.
Gió đưa hơi cọp khiếp oai chồn.
Siêng lo há đợi cơm kề miệng.
Chậm tính nào ngờ nước đến trôn.
Hay dở chuyện đời còn lắm lối.
Múa men xin hãy chớ bôn chôn.
Thôi đừng ba hoa nữa: sức các ông như cánh ruồi mà định làm cho nhện sợ; như lũ chồn, ngửi thấy hơi cọp là run. Nếu biết lo thì chẳng nên đợi ai đưa cơm kề miệng cho mình; nước đến trôn lúc nào không biết….
Bài hoạ.
Khoe khoang việc phải mới rằng khôn.
Kẻ vạy người ngay há một phồn.
Hồng dẫu hư lông đâu sợ sẻ.
Hùm như thất thế dễ thua chồn.
Người Nhan xá ngại dao kề lưỡi.
Họ Khuất nào lo nước đến trôn.
Tháy máy gặp thời ta sẽ động.
Muốn nên việc lớn chớ bôn chôn.
Kẻ trái người ngay sao lại vơ đãu cả nắm? Chim hông tuy mất ít long đâu có sợ chim sẻ, hùm mà thất thế há thua chồn. Nhan cửu Khanh đời Đường bị giặc bắt, chửi giặc, giặc đem cắt lưỡi, vẫn không hề sợ. Khuất Nguyên can vua Sở, biết vua sẽ ghét mình sẽ nguy, nhưng cũng không lo. Hễ cơ hội đến là ta sẽ hành động.
Bài 6.
Hãy chớ bôn chôn việc cửa nhà.
Sau này còn ngại nỗi đường xa.
Ma duồng cơn ngặt lung hai trẻ
Trời mỏi lòng thương xót một già.
Lái đã vững vàng cơn sóng lượn.
Thoi toan đan dệt lúc mưa sa.
Ở đời há dễ quên đời được.
Tính thiệt so hơn cũng gọi là…
Đường xa còn nhiều trở ngại lắm. Nước ta ví như người già trời còn thương, nhưng mà hai trẻ cứ giục chết cho mau. Cơn sóng lượn nay ta đã cầm lái vững, ta lại lo dệt áo phòng mưa nữa. Phải suy hơn thiệt, chớ đừng mai mỉa không công bằng.
Bài họa.
Bôn chôn cũng bởi bận vì nhà.
Dám trách người xưa chửa tính xa?
Hăm hở hãy đang hăng sức trẻ.
Chìu lòn e cũng mỏn hơi già.
Mồi thơm cá quý câu không nhạy.
Cung yếu chim cao bắn chẳng xa.
Đáy giếng trông trời giương mắt ếch.
Làm người như vậy cũng rằng là…
Đâu dám trách ông nông nổi: thanh niên đang hăm hở, còn ông thì lòn cúi cũng hết hơi. Ông muốn dụ chúng tôi, nhưng mồi thơm không câu được cá quý, cung yếu không bắn được chim cao. Ông không biết ngó xa trông rộng, như thế không xứng đáng là kẻ sĩ.
Bài 7.
Cũng gọi là người ắt phải lo.
Có hay chịu khó mới nên trò.
Bạc mông mênh biển cầu toan bắc.
Xanh mịt mù trời thước rắp đo.
Nước ngược chống lên thuyền một mái.
Gác cao bó lại sách trăm pho.
Lòng này dẫu hỏi mà không hổ.
Lặng xét thầm soi cũng biết cho.
Người ta phải thực tế không nên viễn vông, bắc cầu trên biển, lấy thước đo trời. Tiếc thay tình thế ngửa nghiêng mà tôi như thuyền một mái, trong khi các ông chỉ ngồi cao xem sách. Tôi tự xét không hổ với mình, đã có trời xét cho.
Bài họa.
Rằng là người trí cũng xa lo.
Nhuần nhã kinh luân mới phải trò.
Ngay vạy nảy ra cho biết mực.
Thấp cao trông thấy há rằng đo.
Xe Châu nào đợi kinh năm bộ.
Níp Tống vừa đầy sách nửa pho.
Chuốc miệng khen người nên cắc cớ:
Đạo trời ghét vạy há soi cho!
Đã là người trí thì phải lo xa, phải cư xử cho đúng đạo thánh hiền. Ai cong ai ngay, ai cao ai thấp, cần gì phải nói. Tôi cũng học nông nổi thôi, nhưng khuyên ông nên ở phải, đạo trời đâu có soi cho kẻ cong queo.
Bài 8.
Đã biết cho chưa hỡi những người.
Xin đừng tiếc hận, chớ chê cười.
Ví dầu vật ấy còn roi dấu.
Bao quản thân này chịu dễ ngươi.
Trăng giữa ba thu mây cũng tỏ.
Hoa trong chín hạ nắng càng tươi.
Khó lòng mình biết lòng mình khó.
Lòn lỏi công trình kể mấy mươi.
Xin đừng chê cười: các ông khinh tôi cũng chẳng ngại, miễn là nước vẫn còn. Rồi ra trắng sáng thì mây mờ; hoa tàn gặp nắng thì tươi, chỉ mình tôi biết cho tôi là công trình luồn lỏi đã nhiều cũng vì thương nước thương dân.
Bài họa.
Soi cho cũng biết ấy là người.
Chẳng tiếc thân danh, luống sợ cười.
Ba cõi may dầu in lại cũ.
Đôi tròng trông đã thấy không ngươi.
Ngọc lành nhiều vết coi không lịch.
Thơ vụng ít màu nhuộm chẳng tươi.
Đứa dại trót đời, già cũng dại.
Lựa là tuổi mới một đôi mươi.
Ông kể cũng lạ, chẳng tiếc than danh lại sợ chê cười! Nếu như đất nước thu về được, thì chẳng ai thèm nhìn đến ông, vì ngọc lành nhiều vết, thơ nhuộm vụng tay. Thật là già đời còn dại.
Bài 9.
Kể mấy mươi năm nước lễ văn.
Rắn dài, beo lớn, thế khôn ngăn;
Bốn đời, chung đội ơn nuôi dạy.
Ba tỉnh, riêng lo việc ở ăn.
Hết sức người theo trời chẳng kịp.
Hoài công chim lấp biển không bằng.
Phải sao chịu vậy thôi thì chớ.
Nhắm mắt đưa chân lỗi đạo hằng.
Tôi cũng bốn đời gia thế, nay một mình phải lo liệu cho đời sống dân ba tỉnh, tiếc rằng việc nước khó gỡ lại. Chim Tinh Vệ hoài công tha đá lấp biển không bằng, thôi thì nhắm mắt đưa chân, lỗi đạo đành chịu.
Bài họa.
Một đôi mươi uổng tính xăn văn.
Đất lở ai mà dễ dám ngăn?
Nong nả dốc vun nền đạo nghĩa.
Xốn xang nào tưởng việc làm ăn.
Thương người vì nước ngồi không vững.
Trách kẻ cầm cân kẻo chẳng bằng.
Gió xẵng mới hay cây cỏ cứng.
Dõi theo người trước giữ năm hằng.
Đã đành ngăn sao được đất lở, nhưng mà tính quẩn làm gì, lo gì việc làm ăn, hãy cốt giữ vững lấy đạo nghĩa. Ta những thương kẻ bôn ba lo việc nước và trách trời ở không công. Cây cỏ tuy yếu nhưng gió to mới biết là cứng; nên ở cho đúng đạo làm người thì hơn.
Bài 10.
Đạo hằng chi trước thảo cùng ngay.
Lỗi đạo sao cho đáng mắt thầy.
Đất quét đã đành bia lỗ miệng.
Chén tràn e nỗi trở bàn tay.
Nghĩa đen dạy trẻ tranh còn lấp.
Mặt trắng xem trời cánh khó bay.
Chí muốn ngày nào cho được toại?
Giang san ba tỉnh hãy còn đây!
Ai chẳng biết đạo thảo ngay, song đi với kẻ thắng đã đành là xấu, nhưng để nước tràn ra ngoài chén thì còn cứu vãn sao kịp; đem lời thực bảo cho mà không nghe thì các ông khó có cánh bay đâu được. Chí muốn của các ông bao giờ thành được? Mà đất có mất đâu: giang san hãy còn đây mà.
Bài họa.
Năm hằng vốn thiệt thảo cùng ngay.
Cuộc ấy ai xui khéo bận thầy.
Gặp lúc chẳng may nên ngậm miệng.
Chờ khi tháy máy sẽ ra tay.
Nổi chìm mặc thế tình dày mỏng.
Cao thấp dầu ta sức nhảy bay.
Một trận gió đưa xiêu ngã cỏ.
Hơn thua chưa quyết đó cùng đây.
Thật thế: đạo thảo ngay phải giữ, sao ông lại lo giùm cho người ta? Chúng ta gặp bước không may thì ngậm miệng chờ thời cuộc xoay vần. Dân tộc lầm than nhiều ít hãy nán lòng đợi, ta sẽ có lúc đem toàn lực tranh cao thấp. Cỏ bị gió thì ngã xuống, nhưng sự hơn thua đã biết chắc là về ai.
Sau cuộc bút chiến hào hứng này, Tôn không còn dám khoe lực lượng Pháp và coi nhân dân như trẻ nít nữa. Ông dựa vào hoàn cảnh để cãi tội: vì hoàn cảnh ông phải quyền biến chứ lúc nào chỉ một lòng cứu nước cứu dân. Ông ngụ tình vào bài:
Tôn phu nhân qui Hán.
Ngàn thu rạng tiết gái Giang Đông!
Lìa Ngô, bịn rịn chòm mây bạc.
Về Hán, trau tria mảnh má hồng.
Son phấn thà cam dày gió bụi.
Đá vàng chi để thẹn non sông.
Ai về nhắn với Chu Công Cẩn.
Thà mất lòng anh, được bụng chồng.
Tôn phu nhân đi lấy chồng lúc nào cũng nhớ nhà, như mình theo Tây mà vẫn không quên nước: bịn rịn chòm mây bạc. Tôn cũng như phu nhân thà chịu đau khổ, nhưng cũng làm vẻ vang cho nước: Son phấn thà cam dày gió bụi. Đá vàng chi để thẹn non sông.
Tuy có mất lòng anh, song được bụng chồng vì có thể đỡ đần được cho dân khỏi khổ.
Bài này truyền ra Cử Trị lại trả lời:
Cài trâm sửa ao vẹn câu tòng.
Mặt giã trời chiều biệt cõi Đông.
Khói toả vùng Ngô chen thức bạc.
Duyên xe về Thục đượm màu hồng.
Hai vai tơ tóc bền trời đất,
Một gánh cang thường nặng núi sông.
Anh hỡi, Tôn Quyền, anh có biết?
Trai ngay thờ chúa, gái thờ chồng!
Đại ý nói ông sắm sửa mũ áo theo Tây, mặc kệ cảnh khói lửa lầm than, tìm đến chỗ màu hồng đẹp đẽ, quên rằng cương thường không thể nào bỏ được: trai ngay thờ chúa cũng như gái trinh phải thờ chồng.
Sau đó Tôn lại làm một bài ngụ ý nữa, tự ví mình như Từ Thứ bất đắc dĩ phải theo Tào, nhưng không theo thật lòng nên chỉ ngậm miệng, không giúp Tào một mưu chước nào:
Từ Thứ quy Tào.
Thảo đâu dám sánh kẻ cày voi (1)
Muối xát lòng ai nấy mặn mòi.
Ở Hán hãy còn nhiều cột cả.
Về Tào chi xá một cây còi.
Buâng khuâng nhớ mẹ khôn nâng chén.
Bịn rịn trông vua biếng giở roi.
Chẳng đặng khôn Lưu đành dại Ngụy.
Thân này xin gác ngoại vòng thoi.
Ý nói mình không dám bảo mình cũng yêu nước như ai, song nước nhà còn nhiều người xứng đáng, thì một người xoàng như mình có theo Tây cũng chẳng đi đến đâu. Tuy theo những vẫn nhớ nước nhớ vua. Thôi thì chẳng được khôn với các ông thì về với Tây làm kẻ dại vậy, từ nay xin đứng ngoài vòng quốc sự.
Cử Trị đáp lời ngay:
Quá bị trên đầu nhát búa voi.
Kinh luân đâu nữa để khoe mòi!
Xăn văn ruổi Ngụy mây ùn đám.
Dáo dác xa Lưu gió thổi còi.
Đất Hứa nhớ thân sa giọt tủi.
Thành Tương mến chúa nhẹ tay roi!
Về Tào ngậm miệng như bình kín.
Trân trọng lời vàng đáng mấy thoi.
Các ông đã theo Pháp ùn ùn như mây kéo, tránh xa cái nước yếu này rồi, tuy thỉnh thoảng nhớ nước mà sa lệ, nhưng lúc ra đi mà tay roi đét ngựa lẹ thế? Ông hứa ngậm miệng không bày mưu gì cho Pháp, nhưng lời ông liệu đáng tin đến mực nào?
Cuộc bút chiến đến đây chấm dứt, vì từ đây Tôn ngậm miệng như bình kín, mặc cho sự thế xoay vần, miễn mình được lên xe xuống ngựa.
Tôn tạ thế năm 1876, thọ 52 tuổi.
Cử Trị sau về Cần Thơ, vẫn theo đuổi việc dạy học và bốc thuốc. Năm 1910 thì mất, thọ 81 tuổi.
……..
1. Vua Thuấn đi cày, có con voi cảm lòng hiều thảo của vua, ra dẫm nát đất để cày giúp.
PHAN ĐÌNH PHÙNG (1847 – 1895)
Người làng Đông Thái, tổng Việt Yên, huyện La Sơn, tỉnh Hà Tĩnh.
Đỗ cử nhân khoa Bính Tý ( 1876 ), năm 39 tuổi; năm sau đỗ tiến sĩ. Sơ bổ tri phủ Yên Khánh, Ninh Bình. Năm Tự Đức 31 ( 1878 ) đổi về kinh sung chức ngự sử Đô sát viện.
Khi Tự Đức băng hà ( 1883 ), Nguyễn Văn Tường và Tôn thất Thuyết tự quyền phế Dục Đức tôn Hiệp Hoà; ông phản đối nên bị cách chức.
Năm 1884 được phục chức, bổ Tham biện sơn phòng Hà Tĩnh.
Năm 1885, kinh thành thất thủ, vua Hàm Nghi xuất bôn, chạy đến Quảng Bình, Phan tìm đến bái yết được phong làm Tán lý quân vụ và lãnh trọng trách thống xuất nghĩa binh. Ông bèn kéo cờ khởi nghĩa ngay tại quê nhà, đặt đại bản doanh tại Vụ Quang, huyện Hương Khê, Hà Tĩnh; một vùng rừng núi hiểm trở, lợi cho việc dụng binh. Chia quân thành 15 thứ, mỗi thứ từ 100 đến 500 quân, sắp thành cơ ngũ, luyện tập theo lối Âu Tây. Đặc biệt lại có thêm xưởng chế tạo vũ khí do Cao Thắng điều khiển.
Từ năm 1886, suốt 10 năm nghĩa quân gây cho địch nhiều thiệt hại nặng nề.
Trước hết, Phan tự cầm quân lùng bắt tên phản bội Trương quang Ngọc. Do đó, hào kiệt vùng Thanh Nghệ Tĩnh ( Cẩm bá Thước, Ngô Quảng, Nguyễn Cấp, Vũ Phát…) theo về rất đông.
Năm 1893, Phan cho Cao Thắng đánh Nghệ An phá đồn binh và chỗ tích lương thực của Pháp. Cao Thắng phá được mấy đồn, nhưng đã tử trận.
Pháp cho quật mộ tổ của Phan ở làng Đông Thái, bắt giam nhiều người thân thuộc của Phan…Lại sai Đinh nho Quang và Hoàng cao Khải đưa thư chiêu dụ.
Dưới đây, xin sao lại bức thư của Hoàng cao Khải và thư đáp của Phan, dịch đại lược ở Hán văn, để thấy rõ hai lập trường, hai thái độ sai biệt nhau thế nào.
Thư của Hoàng cao Khải.
Đồng ấp Phan đình nguyên đại nhân túc hạ.
Tôi với ngài xa cách nhau, xuân thu đắp đổi trải đã mười bảy năm rồi. Dâu bể cuộc đời, bắc nam đường bụi, tuy mỗi người đi một ngã khác nhau, nhưng trong giấc mộng hồn vẫn thường thấy nhau không phải xa xôi gì.
Từ lúc ngài khởi nghĩa đến giờ, nghĩa khí trung can, đều rõ rệt ở tai mắt người ta. Tôi thường nghe các quý quan nói chuyện đến ngài, ông nào cũng phải thở than khen ngợi và tỏ ý kính trọng ngài lắm. Xem như thế tấm lòng huyết khí tôn thân, tuy người khác nước, cũng chung một tâm tình ấy thôi.
Ngày kinh thành thất thủ, xe giá nhà vua bôn ba, ngài mạnh mẽ đứng ra ứng nghĩa, ngài làm vậy là phải lắm, không ai không nói như thế. Song le, sự thế gần đây đã xoay đổi ra thế nào, thử hỏi có làm được như vậy nữa không, dẫu kẻ ít học thức, kém trí khôn đều trả lời được. Huống chi ngài là bậc tuấn kiệt chẳng lẽ không nghĩ tới hay sao? Tôi trộm xét chủ ý của ngài, chắc cũng cho rằng: ta cứ làm theo việc phải ta biết, cứ đem hết tài năng ta có, một việc nên làm mà làm, là ở người, còn thành được hay không, là ở trời, ta chỉ biết đem thân hứa cho nước đến chết mới thôi.
Có điều tôi thấy tình trạng chốn quê hương chúng ta gần đây, lấy làm đau lòng hết sức. Nhân đó, tôi thường muốn đem ý kiến hẹp hòi, để ngỏ cùng lượng cao minh soi xét; nhưng mấy lần mở giấy, mài mực, toan đặt bút xuống rồi lại gác bút thở dài. Vì sao? Vì tôi liệu biết can tràng của ngài cứng như sắt đá không thể lấy lời nói mà chuyển động nổi. Đã vậy mà lại khác tình khác cảnh, xa mặt xa lòng, lời nói của tôi, chắc gì thấu tới ngài, mà dẫu cho có thấu, đã chắc gì lọt vào tai ngài chịu nghe dùng cho, hay lại chỉ để cho cố nhân cười mình là thằng ngu thì có.
Nay nhân quan Toàn quyền trở lại đem việc tỉnh ta ra bàn, có khuyên tôi sai người đến tỏ ý cùng ngài rằng: ngài là bực hiểu biết nghĩa lớn, dẫu không bận lòng đến thân mình nhà mình đi nữa, thì cũng nên tưởng nghĩ cứu vớt lấy dân một địa phương. Lời nói đó, quan Toàn quyền không nói với ai, mà nói với tôi, là vì cho rằng: tôi với ngài có cái tình xóm làng cố cựu với nhau, chắc hẳn tôi nói ngài nghe được, vậy có lẽ nào tôi làm thinh không nói.
Ngài thử nghĩ: quan Toàn quyền là người khác nước, muôn dặm tới đây, mà còn có lòng băn khoăn nghĩ tới dân mình thay, huống chi chúng ta sanh đẻ lớn khôn ở đất này, là đất của cha mẹ tôn tộc, có lý đâu mà mình làm lơ cho đành: làm lơ thì trăm năm về sau, người ta sẽ bảo mình ra sao? Làm người trên phải có lòng thương dân làm cốt, chưa từng có ai không biết thương dân mà bảo là trung với vua bao giờ. Việc của ngài làm bấy lâu, bảo rằng trung thì thiệt là trung, song dân ta có tội gì đâu mà phải lầm than thế này là lỗi tại ai? Nếu bảo là đã vì thiên hạ thì không thiết chi tới nhà nữa, cũng phải; nhưng một nhà của mình đã vậy còn bao nhiêu nhà trong khắp vùng cũng bỏ đi cả, sao cho đang tâm! Tôi nghĩ nếu như ngài cứ khăng khăng làm tràn tới mãi, e rằng khắp cả sông Lam núi Hồng đều biến thành hồ hết thảy, chớ không phải chỉ riêng cây cỏ một làng Đông Thái chúng ta thôi đâu.
Tôi đắn đo vụt lấy làm mừng mà nói riêng với mình:
Được rồi, lời nói đó tôi có thể đem ra nói cho ngài nghe lọt tai, để xin ngài chỉ bảo cho biết như vậy có phải hay không? Tuy nhiên sự thể của ngài, như cưỡi trên lưng cọp đã lỡ, bây giờ muốn bước xuống, nghi ngại khó khăn biết bao?
Nếu tôi không có chỗ tin chắc được ở mình, thì quyết không khi nào dám mở lời nói liều lĩnh để mang lụy cho cố nhân về sau. Nhưng may là tôi nói với quan Toàn quyền, vốn có tình quen biết nhau lâu, lại với quan Khâm sứ ở kinh, và quan Công sứ Nghệ Tĩnh, tôi quen thân hiệp ý lắm, thế nên trước kia Trần phiên sứ ( tên là Khách Tiến, làm Tuần phủ nên gọi là phiên sứ ), Phan thị lang ( tên Huy Nhuận ) cũng là chỗ thân trong tỉnh làng, hoặc bị tội nặng, hoặc bị xử đày, mà tôi bảo toàn cho đều yên ổn vô sự. Lại như mới rồi, ông Phan trọng Mưu ra thú, tôi dẫn yết kiến các đại hiền quý quan, thì các quan cũng tiếp đãi trân trọng như khách quý, và tức thời điện về tỉnh nhà, bắt trả lại mồ mả và tha cả ba con về, như thế tỏ ra nhà nước bảo hộ khoan dung biết nhường nào.
Bây giờ, nếu ngài không cho lời tôi là dông dài, thì xin ngài đừng có ngần ngại gì hết, tôi không khi nào dám để cố nhân mang tiếng là người bất trí đâu.
Hoàng cao Khải.
Đôn thư.
Thư trả lời của Phan.
Hoàng quý đài các hạ.
Gần đây tôi vì việc quân, ở mãi chốn rừng rú, lại thêm lúc này tiết trời rét quá, nông nỗi thiệt là buồn tênh. Chợt có người báo có thơ của cố nhân gởi lại. Nghe tin ấy, bao nhiêu nỗi buồn rầu lạnh lẽo tan đi đâu mất cả. Tiếp thơ, bèn mở ra đọc; trong thơ cố nhân chỉ bảo điều hoạ phước, bày tỏ chỗ lợi hại, chẳng những muốn mưu an toàn cho tôi mà thôi, chính là muốn mưu sự yên ổn cho toàn hạt ta nữa. Những lời nói gan ruột của cố nhân, tôi đã hiểu biết: cách nhau muôn dặm tuy xa, nhưng chẳng khác gì chúng ta ngồi chung cùng nhà nói chuyện với nhau vậy.
Song le, tâm sự và cảnh ngộ của tôi có nhiều chỗ muôn vàn khó nói. Xem sự thế thiên hạ thế kia, mà tài lực tôi thế này, y như lời cố nhân đã nói: sức bọ ngựa là bao mà dám giơ cánh tay lên chống xe.
Nhưng nghĩ lại, nước nhà mấy ngàn năm qua chỉ lấy văn hiến truyền nối đời này qua đời kia, đất nước chẳng rộng, quân lính chẳng mạnh, tiền của chẳng giầu, duy có chỗ ỷ thị dựa nương để dựng được nước, là nhờ cái gốc vua tôi cha con theo đạo năm thường. Xưa nhà Hán, nhà Đường, nhà Tống, nhà Nguyên, bao phen lăm le chiếm đất ta làm quận huyện mà vẫn không chiếm được. Ôi! nước Tàu với nước ta, bờ cõi liền nhau, sức mạnh hơn ta vạn bội, thế mà trước sau không thể ỷ mạnh nuốt trôi ta được, nào có vì lẽ gì khác đâu, chẳng qua non sông nước Nam tự trời định phận riêng hẳn rồi, và cái căn bản thi thơ lễ nghĩa vốn có chỗ đủ cho mình trông cậy dựa nương lắm vậy. Đến nay, người Pháp với mình cách nhau không biết là mấy muôn dặm, họ vượt bể lại đây, đi tới đâu như gió lướt tới đó, đến nhà vua phải chạy, cả nước lao xao, bỗng chốc non sông nước mình biến thành bờ cõi người ta, thế là trọn cả nước nhà, dân nhà cũng bị đắm chìm hết thảy, chớ có phải riêng một châu nào, một nhà nào phải chịu lầm than đâu!
Năm Ất Dậu xa giá Thiên tử ngự đến Sơn phòng Nghệ Tĩnh. Lúc đó, tôi đương có tang mẹ, chỉ biết đóng cửa cư tang cho trọn đạo, chớ đâu dám mơ tưởng đến sự gì khác hơn. Song vì mình là con nhà thế thần, nên đôi ba lần đức Hoàng thượng giáng chiếu vời ra, không lẽ nào từ chối, thành ra tôi phải gắng gổ đứng ra vâng chiếu. Gần đây Hoàng thượng lại đoái tưởng lựa tôi mà giao phó việc lớn, ủy thác chuyện to, ấy mệnh vua như thế, nếu cố nhân đặt mình vào cảnh tôi, liệu có đành chối từ trốn tránh được không?
Thưa cố nhân, chỉ vì nhân tâm đối với tôi như thế, cho nên nhà cửa tôi dù hương khói vắng tanh, bà con xiêu dạt, tôi cũng chẳng dám đoái hoài. Nghĩ xem kẻ thân mà mình còn không đoái hoài, huống chi kẻ sơ; người gần mà mình còn không bao bọc, huống chi người xa. Vả chăng hạt ta đến nỗi điêu đứng lầm than quá, không phải riêng vì tai hoạ binh đao: quân Pháp đi tới đâu, có lũ tiểu nhân túa ra bày kế lập công, thù vơ oán chạ: người không có tội, chúng cũng buộc cho có tội, rồi thì nay trách mai phạt; phàm có cách gì đục khoét được của dân, chúng cũng dùng tới hết; bởi đó mà thói hư mối tệ tràn ra cả trăm cả ngàn, quan Pháp làm sao biết thấu những tật khổ của dân quê. Như thế, bảo dân không tan lìa trôi dạt sao được?
Cố nhân với tôi đều sanh đẻ tại châu Hoan mà ở cách xa ngoài muôn ngàn dặm, cố nhân còn có lòng đoái tưởng quê hương thay, huống chi tôi đây đã từng lấy thân chịu đựng và lấy mắt trông đến, thì sao? Khốn nỗi cảnh ngộ bó buộc, vả lại sức mình chẳng làm được theo lòng mình muốn, thành ra phải đành. Cố nhân đã biết đoái hoài thương xót dân này thì nên lấy tâm sự tôi và cảnh ngộ của tôi thử đặt mình vào mà suy nghĩ xem, tự nhiên thấy rõ ràng, có cần gì tôi phải nói dông dài nữa ư?
Phan đình Phùng.
Phúc thơ.
Cuộc chiêu dụ không đem lại kết quả, năm 1895 Pháp quyết đánh mạnh. Núi Vụ Quang bị vây hãm; Phan phải lui quân về đóng ở núi Đại Hàm.
Dùng kế ngăn nước dụ cho địch đuổi qua sông, rồi cho phá đập để nước chảy mạnh xuống, Phan đã thắng một trận vẻ vang: giết được 3 sĩ quan Pháp cùng hàng trăm lính, lấy được ngót 100 súng.
Pháp được Khâm sai Nguyễn Thân giúp đỡ, càng ngày càng thắt chặt vòng vây, nghĩa binh hụt dần lương thực. Phan đình Phùng mắc bệnh lỵ mà mất tại núi Quạt ngày 31 – 11 – 1895, thọ 49 tuổi.
Khi sắp mất Phan có bài thơ cảm khái:
Nhung trường phụng mạng thập canh đông.
Võ lực y nhiên vị tấu công.
Cùng hộ ngao thiên nan trạch nhạn.
Phỉ đồ biến vị thượng đồn phong.
Cửu trùng xa giá quan san ngoại.
Tứ hải nhân dân thủy hoả trung.
Trách vọng dũ long ưu dũ đại.
Tướng môn thâm tự quý anh hùng.
Dịch:
Nhung trường vâng mạng đã mười đông.
Đánh dẹp dây dưa chửa tấu công.
Dân đói kêu trời vang ổ nhạn.
Quân gian dậy đất rộn đàn ong.
Chín trùng lận đận miền quan tái.
Trăm họ lẩm than đám lửa hồng.
Trách vọng càng nhiều càng cố gắng.
Tướng môn riêng hổ tiếng anh hùng.
Phan mất rồi, quân thứ các nơi sinh chán nản, phần trở về quê quán, phần trốn sang Xiêm, Lào, phần ra đầu thú.
Cách đó ít lâu, Nguyễn Thân tìm ra được ngôi mộ của Phan, sai đào lấy di thể đốt ra tro rồi trộn vào thuốc súng, cho vào súng thần công bắn xuống sông La Giang.
Đỗ cử nhân khoa Bính Tý ( 1876 ), năm 39 tuổi; năm sau đỗ tiến sĩ. Sơ bổ tri phủ Yên Khánh, Ninh Bình. Năm Tự Đức 31 ( 1878 ) đổi về kinh sung chức ngự sử Đô sát viện.
Khi Tự Đức băng hà ( 1883 ), Nguyễn Văn Tường và Tôn thất Thuyết tự quyền phế Dục Đức tôn Hiệp Hoà; ông phản đối nên bị cách chức.
Năm 1884 được phục chức, bổ Tham biện sơn phòng Hà Tĩnh.
Năm 1885, kinh thành thất thủ, vua Hàm Nghi xuất bôn, chạy đến Quảng Bình, Phan tìm đến bái yết được phong làm Tán lý quân vụ và lãnh trọng trách thống xuất nghĩa binh. Ông bèn kéo cờ khởi nghĩa ngay tại quê nhà, đặt đại bản doanh tại Vụ Quang, huyện Hương Khê, Hà Tĩnh; một vùng rừng núi hiểm trở, lợi cho việc dụng binh. Chia quân thành 15 thứ, mỗi thứ từ 100 đến 500 quân, sắp thành cơ ngũ, luyện tập theo lối Âu Tây. Đặc biệt lại có thêm xưởng chế tạo vũ khí do Cao Thắng điều khiển.
Từ năm 1886, suốt 10 năm nghĩa quân gây cho địch nhiều thiệt hại nặng nề.
Trước hết, Phan tự cầm quân lùng bắt tên phản bội Trương quang Ngọc. Do đó, hào kiệt vùng Thanh Nghệ Tĩnh ( Cẩm bá Thước, Ngô Quảng, Nguyễn Cấp, Vũ Phát…) theo về rất đông.
Năm 1893, Phan cho Cao Thắng đánh Nghệ An phá đồn binh và chỗ tích lương thực của Pháp. Cao Thắng phá được mấy đồn, nhưng đã tử trận.
Pháp cho quật mộ tổ của Phan ở làng Đông Thái, bắt giam nhiều người thân thuộc của Phan…Lại sai Đinh nho Quang và Hoàng cao Khải đưa thư chiêu dụ.
Dưới đây, xin sao lại bức thư của Hoàng cao Khải và thư đáp của Phan, dịch đại lược ở Hán văn, để thấy rõ hai lập trường, hai thái độ sai biệt nhau thế nào.
Thư của Hoàng cao Khải.
Đồng ấp Phan đình nguyên đại nhân túc hạ.
Tôi với ngài xa cách nhau, xuân thu đắp đổi trải đã mười bảy năm rồi. Dâu bể cuộc đời, bắc nam đường bụi, tuy mỗi người đi một ngã khác nhau, nhưng trong giấc mộng hồn vẫn thường thấy nhau không phải xa xôi gì.
Từ lúc ngài khởi nghĩa đến giờ, nghĩa khí trung can, đều rõ rệt ở tai mắt người ta. Tôi thường nghe các quý quan nói chuyện đến ngài, ông nào cũng phải thở than khen ngợi và tỏ ý kính trọng ngài lắm. Xem như thế tấm lòng huyết khí tôn thân, tuy người khác nước, cũng chung một tâm tình ấy thôi.
Ngày kinh thành thất thủ, xe giá nhà vua bôn ba, ngài mạnh mẽ đứng ra ứng nghĩa, ngài làm vậy là phải lắm, không ai không nói như thế. Song le, sự thế gần đây đã xoay đổi ra thế nào, thử hỏi có làm được như vậy nữa không, dẫu kẻ ít học thức, kém trí khôn đều trả lời được. Huống chi ngài là bậc tuấn kiệt chẳng lẽ không nghĩ tới hay sao? Tôi trộm xét chủ ý của ngài, chắc cũng cho rằng: ta cứ làm theo việc phải ta biết, cứ đem hết tài năng ta có, một việc nên làm mà làm, là ở người, còn thành được hay không, là ở trời, ta chỉ biết đem thân hứa cho nước đến chết mới thôi.
Có điều tôi thấy tình trạng chốn quê hương chúng ta gần đây, lấy làm đau lòng hết sức. Nhân đó, tôi thường muốn đem ý kiến hẹp hòi, để ngỏ cùng lượng cao minh soi xét; nhưng mấy lần mở giấy, mài mực, toan đặt bút xuống rồi lại gác bút thở dài. Vì sao? Vì tôi liệu biết can tràng của ngài cứng như sắt đá không thể lấy lời nói mà chuyển động nổi. Đã vậy mà lại khác tình khác cảnh, xa mặt xa lòng, lời nói của tôi, chắc gì thấu tới ngài, mà dẫu cho có thấu, đã chắc gì lọt vào tai ngài chịu nghe dùng cho, hay lại chỉ để cho cố nhân cười mình là thằng ngu thì có.
Nay nhân quan Toàn quyền trở lại đem việc tỉnh ta ra bàn, có khuyên tôi sai người đến tỏ ý cùng ngài rằng: ngài là bực hiểu biết nghĩa lớn, dẫu không bận lòng đến thân mình nhà mình đi nữa, thì cũng nên tưởng nghĩ cứu vớt lấy dân một địa phương. Lời nói đó, quan Toàn quyền không nói với ai, mà nói với tôi, là vì cho rằng: tôi với ngài có cái tình xóm làng cố cựu với nhau, chắc hẳn tôi nói ngài nghe được, vậy có lẽ nào tôi làm thinh không nói.
Ngài thử nghĩ: quan Toàn quyền là người khác nước, muôn dặm tới đây, mà còn có lòng băn khoăn nghĩ tới dân mình thay, huống chi chúng ta sanh đẻ lớn khôn ở đất này, là đất của cha mẹ tôn tộc, có lý đâu mà mình làm lơ cho đành: làm lơ thì trăm năm về sau, người ta sẽ bảo mình ra sao? Làm người trên phải có lòng thương dân làm cốt, chưa từng có ai không biết thương dân mà bảo là trung với vua bao giờ. Việc của ngài làm bấy lâu, bảo rằng trung thì thiệt là trung, song dân ta có tội gì đâu mà phải lầm than thế này là lỗi tại ai? Nếu bảo là đã vì thiên hạ thì không thiết chi tới nhà nữa, cũng phải; nhưng một nhà của mình đã vậy còn bao nhiêu nhà trong khắp vùng cũng bỏ đi cả, sao cho đang tâm! Tôi nghĩ nếu như ngài cứ khăng khăng làm tràn tới mãi, e rằng khắp cả sông Lam núi Hồng đều biến thành hồ hết thảy, chớ không phải chỉ riêng cây cỏ một làng Đông Thái chúng ta thôi đâu.
Tôi đắn đo vụt lấy làm mừng mà nói riêng với mình:
Được rồi, lời nói đó tôi có thể đem ra nói cho ngài nghe lọt tai, để xin ngài chỉ bảo cho biết như vậy có phải hay không? Tuy nhiên sự thể của ngài, như cưỡi trên lưng cọp đã lỡ, bây giờ muốn bước xuống, nghi ngại khó khăn biết bao?
Nếu tôi không có chỗ tin chắc được ở mình, thì quyết không khi nào dám mở lời nói liều lĩnh để mang lụy cho cố nhân về sau. Nhưng may là tôi nói với quan Toàn quyền, vốn có tình quen biết nhau lâu, lại với quan Khâm sứ ở kinh, và quan Công sứ Nghệ Tĩnh, tôi quen thân hiệp ý lắm, thế nên trước kia Trần phiên sứ ( tên là Khách Tiến, làm Tuần phủ nên gọi là phiên sứ ), Phan thị lang ( tên Huy Nhuận ) cũng là chỗ thân trong tỉnh làng, hoặc bị tội nặng, hoặc bị xử đày, mà tôi bảo toàn cho đều yên ổn vô sự. Lại như mới rồi, ông Phan trọng Mưu ra thú, tôi dẫn yết kiến các đại hiền quý quan, thì các quan cũng tiếp đãi trân trọng như khách quý, và tức thời điện về tỉnh nhà, bắt trả lại mồ mả và tha cả ba con về, như thế tỏ ra nhà nước bảo hộ khoan dung biết nhường nào.
Bây giờ, nếu ngài không cho lời tôi là dông dài, thì xin ngài đừng có ngần ngại gì hết, tôi không khi nào dám để cố nhân mang tiếng là người bất trí đâu.
Hoàng cao Khải.
Đôn thư.
Thư trả lời của Phan.
Hoàng quý đài các hạ.
Gần đây tôi vì việc quân, ở mãi chốn rừng rú, lại thêm lúc này tiết trời rét quá, nông nỗi thiệt là buồn tênh. Chợt có người báo có thơ của cố nhân gởi lại. Nghe tin ấy, bao nhiêu nỗi buồn rầu lạnh lẽo tan đi đâu mất cả. Tiếp thơ, bèn mở ra đọc; trong thơ cố nhân chỉ bảo điều hoạ phước, bày tỏ chỗ lợi hại, chẳng những muốn mưu an toàn cho tôi mà thôi, chính là muốn mưu sự yên ổn cho toàn hạt ta nữa. Những lời nói gan ruột của cố nhân, tôi đã hiểu biết: cách nhau muôn dặm tuy xa, nhưng chẳng khác gì chúng ta ngồi chung cùng nhà nói chuyện với nhau vậy.
Song le, tâm sự và cảnh ngộ của tôi có nhiều chỗ muôn vàn khó nói. Xem sự thế thiên hạ thế kia, mà tài lực tôi thế này, y như lời cố nhân đã nói: sức bọ ngựa là bao mà dám giơ cánh tay lên chống xe.
Nhưng nghĩ lại, nước nhà mấy ngàn năm qua chỉ lấy văn hiến truyền nối đời này qua đời kia, đất nước chẳng rộng, quân lính chẳng mạnh, tiền của chẳng giầu, duy có chỗ ỷ thị dựa nương để dựng được nước, là nhờ cái gốc vua tôi cha con theo đạo năm thường. Xưa nhà Hán, nhà Đường, nhà Tống, nhà Nguyên, bao phen lăm le chiếm đất ta làm quận huyện mà vẫn không chiếm được. Ôi! nước Tàu với nước ta, bờ cõi liền nhau, sức mạnh hơn ta vạn bội, thế mà trước sau không thể ỷ mạnh nuốt trôi ta được, nào có vì lẽ gì khác đâu, chẳng qua non sông nước Nam tự trời định phận riêng hẳn rồi, và cái căn bản thi thơ lễ nghĩa vốn có chỗ đủ cho mình trông cậy dựa nương lắm vậy. Đến nay, người Pháp với mình cách nhau không biết là mấy muôn dặm, họ vượt bể lại đây, đi tới đâu như gió lướt tới đó, đến nhà vua phải chạy, cả nước lao xao, bỗng chốc non sông nước mình biến thành bờ cõi người ta, thế là trọn cả nước nhà, dân nhà cũng bị đắm chìm hết thảy, chớ có phải riêng một châu nào, một nhà nào phải chịu lầm than đâu!
Năm Ất Dậu xa giá Thiên tử ngự đến Sơn phòng Nghệ Tĩnh. Lúc đó, tôi đương có tang mẹ, chỉ biết đóng cửa cư tang cho trọn đạo, chớ đâu dám mơ tưởng đến sự gì khác hơn. Song vì mình là con nhà thế thần, nên đôi ba lần đức Hoàng thượng giáng chiếu vời ra, không lẽ nào từ chối, thành ra tôi phải gắng gổ đứng ra vâng chiếu. Gần đây Hoàng thượng lại đoái tưởng lựa tôi mà giao phó việc lớn, ủy thác chuyện to, ấy mệnh vua như thế, nếu cố nhân đặt mình vào cảnh tôi, liệu có đành chối từ trốn tránh được không?
Thưa cố nhân, chỉ vì nhân tâm đối với tôi như thế, cho nên nhà cửa tôi dù hương khói vắng tanh, bà con xiêu dạt, tôi cũng chẳng dám đoái hoài. Nghĩ xem kẻ thân mà mình còn không đoái hoài, huống chi kẻ sơ; người gần mà mình còn không bao bọc, huống chi người xa. Vả chăng hạt ta đến nỗi điêu đứng lầm than quá, không phải riêng vì tai hoạ binh đao: quân Pháp đi tới đâu, có lũ tiểu nhân túa ra bày kế lập công, thù vơ oán chạ: người không có tội, chúng cũng buộc cho có tội, rồi thì nay trách mai phạt; phàm có cách gì đục khoét được của dân, chúng cũng dùng tới hết; bởi đó mà thói hư mối tệ tràn ra cả trăm cả ngàn, quan Pháp làm sao biết thấu những tật khổ của dân quê. Như thế, bảo dân không tan lìa trôi dạt sao được?
Cố nhân với tôi đều sanh đẻ tại châu Hoan mà ở cách xa ngoài muôn ngàn dặm, cố nhân còn có lòng đoái tưởng quê hương thay, huống chi tôi đây đã từng lấy thân chịu đựng và lấy mắt trông đến, thì sao? Khốn nỗi cảnh ngộ bó buộc, vả lại sức mình chẳng làm được theo lòng mình muốn, thành ra phải đành. Cố nhân đã biết đoái hoài thương xót dân này thì nên lấy tâm sự tôi và cảnh ngộ của tôi thử đặt mình vào mà suy nghĩ xem, tự nhiên thấy rõ ràng, có cần gì tôi phải nói dông dài nữa ư?
Phan đình Phùng.
Phúc thơ.
Cuộc chiêu dụ không đem lại kết quả, năm 1895 Pháp quyết đánh mạnh. Núi Vụ Quang bị vây hãm; Phan phải lui quân về đóng ở núi Đại Hàm.
Dùng kế ngăn nước dụ cho địch đuổi qua sông, rồi cho phá đập để nước chảy mạnh xuống, Phan đã thắng một trận vẻ vang: giết được 3 sĩ quan Pháp cùng hàng trăm lính, lấy được ngót 100 súng.
Pháp được Khâm sai Nguyễn Thân giúp đỡ, càng ngày càng thắt chặt vòng vây, nghĩa binh hụt dần lương thực. Phan đình Phùng mắc bệnh lỵ mà mất tại núi Quạt ngày 31 – 11 – 1895, thọ 49 tuổi.
Khi sắp mất Phan có bài thơ cảm khái:
Nhung trường phụng mạng thập canh đông.
Võ lực y nhiên vị tấu công.
Cùng hộ ngao thiên nan trạch nhạn.
Phỉ đồ biến vị thượng đồn phong.
Cửu trùng xa giá quan san ngoại.
Tứ hải nhân dân thủy hoả trung.
Trách vọng dũ long ưu dũ đại.
Tướng môn thâm tự quý anh hùng.
Dịch:
Nhung trường vâng mạng đã mười đông.
Đánh dẹp dây dưa chửa tấu công.
Dân đói kêu trời vang ổ nhạn.
Quân gian dậy đất rộn đàn ong.
Chín trùng lận đận miền quan tái.
Trăm họ lẩm than đám lửa hồng.
Trách vọng càng nhiều càng cố gắng.
Tướng môn riêng hổ tiếng anh hùng.
Phan mất rồi, quân thứ các nơi sinh chán nản, phần trở về quê quán, phần trốn sang Xiêm, Lào, phần ra đầu thú.
Cách đó ít lâu, Nguyễn Thân tìm ra được ngôi mộ của Phan, sai đào lấy di thể đốt ra tro rồi trộn vào thuốc súng, cho vào súng thần công bắn xuống sông La Giang.
PHẠM ỨNG THUẦN (Cả Thuần)
Bút hiệu Hiếu Khanh, tục gọi là Cả Thuần sinh năm 1885 tại làng Vị Xuyên, huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định. Ông học rất thông tuệ, tính lại ngay thẳng không chịu hợp tác với chính quyền Pháp, chỉ ưa sống đời thanh bạch, không cầu xin gì, không phiền lụy ai.
Ông sở trường về thi ca Quốc văn, nhất là về thể loại phúng thích: vì loại này có tính cách đụng chạm đến người đương thời, nên ít khi được ghi trên giấy để tránh những tai vạ về khẩu nghiệp. Thành ra chỉ có ít bài có dính dáng đến những nhân vật tiếng tăm hay tai tiếng, được truyền tụng trong nhân gian, do đó mới còn lại đến ngày nay.
Ở Nam Định có một cô me Tây gá nghĩa cùng viên Công sứ Pháp, nhân có giúp công vào việc chẩn tế nạn lụt năm Bính Ngọ ( 1906 ), nên được công sứ tư thưởng kim tiền. Khi Công sứ về Pháp, cô ở lại trong cảnh cô liêu, vốn có tính đồng bóng, nên lập điện ở chùa Phù Long để sớm khuya hầu thánh cho giải sầu.
Hiếu Khanh diễu bằng một bài Đường luật ( bài này nhiều người lầm là của Tú Xương, xong Tú Xương tạ thế năm Bính Ngọ, mà việc lập điện trên đây thực hiện vào mấy năm sau )
Rứt cái mề đay ném xuống sông.
Thôi thôi, tôi cũng méc xì ông!
Âu đành chùa đó, âu thành Phật.
Cũng chẳng con chi cũng chẳng chồng.
Chớ thấy câu kinh mà mặc kệ.
Nào ngờ chữ sắc hóa ra không.
Tôi đây cũng muốn như cô nhỉ.
Trót nợ trần hoàn gỡ chửa xong.
Về câu chuyện họ Từ khắc thơ và đục chân vào núi, bài thơ mà nhiều người lầm là của Tản Đà, cũng do Hiếu Khanh khẩu chiếm, và Tản Đà thuật lại trong An Nam tạp chí.
Năm ngoái ông lên đục bốn vần.
Năm nay ông lại đục hai chân.
Khen cho đá cũng bền gan thật.
Chịu mãi cho ông đục mấy lần.
Khi thấy chính quyền mở ra lớp dạy quốc ngữ, và thêm vào chương trình thi hương môn học quốc văn, Tú Xương đã có thơ đả kích.
Nghe nói khoa sau sắp đổi thi.
Những thầy đồ cổ đỗ mau đi.
Nếu không bia đá còn bia miệng.
Vứt bút lông đi giắt bút chì.
Hiếu Khanh cũng cùng quan niệm, cho rằng cái bọn vứt bút lông giắt bút chì, là xu thời đáng bỉ, nên làm một bài phú.
Thầy đồ học quốc ngữ để đi thi.
Này cu-a-cua, này ô-c-ốc.
Vác lều vào trường; cắp sách đi học.
Văn chương mạt kiếp, thằng bé hết hơi.
Âu Á chuyện đời bác đồ tịt ngóc.
Thầy khóa khom lưng kiếm gạo, mặt tầy lệch, cổ tầy cong.
Ông Tây đá đít lấy tiền, câm như hến, nín như thóc.
Nguyên phù thầy chi vi thầy dã.
Nghênh nghênh ngang ngang, dở dở dang dang.
Râu ria một nạm, văn sách ba trường.
Thầy chi mặt hề nhẵn hàng thịt;
Thầy chi văn hề viết sát xương.
Thi thì một hỏng, một vào: o-a-c-h oách.
Tính lại nửa gàn, nửa dở: ư-ơ-n-g ương.
Ư thị hồ:
Thầy nằm thầy kêu, thầy ngồi thày gõ.
Nách cắp vở đồ; tay xách cái lọ.
Học trò kia kìa, quan trường đó nọ.
Thằng vào, thằng ra; văn dễ, văn khó.
Thằng thì kêu trời; thằng thì chửi chó.
Hỏi rằng xong chửa? l-a-m lam huyền làm.
Hỏi rằng nhục không? c-o sắc có.
Hỏi rằng giám trường là ai? Thưa rằng viên công sứ Đạc ( Darles )
Hỏi rằng quan trường là ai? Thưa rằng mấy ông trạ gạc.
Thôi thì:
Cũng chẳng đi học; cũng chẳng đi thi.
Thi cũng không đỗ; đỗ cũng không đi.
Túy lúy càn khôn hề rượu thầy đánh tì tì.
Khoan hoài vũ trụ hề mồm thầy cười khì khì.
…………
Thôi tôi lạy thầy trăm lạy, thầy xếp bút nghiên, lều chõng, thầy đi về.
Ông sở trường về thi ca Quốc văn, nhất là về thể loại phúng thích: vì loại này có tính cách đụng chạm đến người đương thời, nên ít khi được ghi trên giấy để tránh những tai vạ về khẩu nghiệp. Thành ra chỉ có ít bài có dính dáng đến những nhân vật tiếng tăm hay tai tiếng, được truyền tụng trong nhân gian, do đó mới còn lại đến ngày nay.
Ở Nam Định có một cô me Tây gá nghĩa cùng viên Công sứ Pháp, nhân có giúp công vào việc chẩn tế nạn lụt năm Bính Ngọ ( 1906 ), nên được công sứ tư thưởng kim tiền. Khi Công sứ về Pháp, cô ở lại trong cảnh cô liêu, vốn có tính đồng bóng, nên lập điện ở chùa Phù Long để sớm khuya hầu thánh cho giải sầu.
Hiếu Khanh diễu bằng một bài Đường luật ( bài này nhiều người lầm là của Tú Xương, xong Tú Xương tạ thế năm Bính Ngọ, mà việc lập điện trên đây thực hiện vào mấy năm sau )
Rứt cái mề đay ném xuống sông.
Thôi thôi, tôi cũng méc xì ông!
Âu đành chùa đó, âu thành Phật.
Cũng chẳng con chi cũng chẳng chồng.
Chớ thấy câu kinh mà mặc kệ.
Nào ngờ chữ sắc hóa ra không.
Tôi đây cũng muốn như cô nhỉ.
Trót nợ trần hoàn gỡ chửa xong.
Về câu chuyện họ Từ khắc thơ và đục chân vào núi, bài thơ mà nhiều người lầm là của Tản Đà, cũng do Hiếu Khanh khẩu chiếm, và Tản Đà thuật lại trong An Nam tạp chí.
Năm ngoái ông lên đục bốn vần.
Năm nay ông lại đục hai chân.
Khen cho đá cũng bền gan thật.
Chịu mãi cho ông đục mấy lần.
Khi thấy chính quyền mở ra lớp dạy quốc ngữ, và thêm vào chương trình thi hương môn học quốc văn, Tú Xương đã có thơ đả kích.
Nghe nói khoa sau sắp đổi thi.
Những thầy đồ cổ đỗ mau đi.
Nếu không bia đá còn bia miệng.
Vứt bút lông đi giắt bút chì.
Hiếu Khanh cũng cùng quan niệm, cho rằng cái bọn vứt bút lông giắt bút chì, là xu thời đáng bỉ, nên làm một bài phú.
Thầy đồ học quốc ngữ để đi thi.
Này cu-a-cua, này ô-c-ốc.
Vác lều vào trường; cắp sách đi học.
Văn chương mạt kiếp, thằng bé hết hơi.
Âu Á chuyện đời bác đồ tịt ngóc.
Thầy khóa khom lưng kiếm gạo, mặt tầy lệch, cổ tầy cong.
Ông Tây đá đít lấy tiền, câm như hến, nín như thóc.
Nguyên phù thầy chi vi thầy dã.
Nghênh nghênh ngang ngang, dở dở dang dang.
Râu ria một nạm, văn sách ba trường.
Thầy chi mặt hề nhẵn hàng thịt;
Thầy chi văn hề viết sát xương.
Thi thì một hỏng, một vào: o-a-c-h oách.
Tính lại nửa gàn, nửa dở: ư-ơ-n-g ương.
Ư thị hồ:
Thầy nằm thầy kêu, thầy ngồi thày gõ.
Nách cắp vở đồ; tay xách cái lọ.
Học trò kia kìa, quan trường đó nọ.
Thằng vào, thằng ra; văn dễ, văn khó.
Thằng thì kêu trời; thằng thì chửi chó.
Hỏi rằng xong chửa? l-a-m lam huyền làm.
Hỏi rằng nhục không? c-o sắc có.
Hỏi rằng giám trường là ai? Thưa rằng viên công sứ Đạc ( Darles )
Hỏi rằng quan trường là ai? Thưa rằng mấy ông trạ gạc.
Thôi thì:
Cũng chẳng đi học; cũng chẳng đi thi.
Thi cũng không đỗ; đỗ cũng không đi.
Túy lúy càn khôn hề rượu thầy đánh tì tì.
Khoan hoài vũ trụ hề mồm thầy cười khì khì.
…………
Thôi tôi lạy thầy trăm lạy, thầy xếp bút nghiên, lều chõng, thầy đi về.
ÔNG ÍCH KHIÊM
Người làng Phong Lệ, phủ Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Vốn dòng dõi người cao nguyên, trước họ Ong đến đầu đời Tự Đức thi đỗ cử nhân, vua cho đổi thành họ Ông, về sau thường gọi là ông Tiễu, vì ông làm chức Tiễu phủ sứ.
Khi làm tri huyện ở Huế, Pháp tấn công chiếm được kinh thành, ông bị cách chức tước, phải đi tiền quân hiệu lực. Ông ngày thường hay nghiên cứu binh thư, có mưu lược lại thêm võ dõng, nên đánh giặc nhiều trận thắng. Sau được khai phục, thăng lần lần lên đến chức Tiễu phủ sứ. Sử chép đã nhiều về ông, nay xin dẫn lại vài chuyện nhỏ.
Ông ra trận không cần dùng nhiều quân, chỉ trọng mưu lược và dũng cảm. Lúc đánh giặc Tàu Ngô Côn, ông bày trận: sớm quay lưng về hướng đông, chiều quay lưng về hướng tây. Thời ấy đánh nhau bằng giáo mác, quân Tàu phần nhiều thức khuya hút thuốc phiện. Sáng dậy, mắt nhắm mắt mở nên hay bị quáng nắng, binh ông nhân đó thừa thế đánh tràn. Trận ấy Ngô Côn thua bỏ lại cả ngàn xác chết.
Khi tỉnh thành Thái Nguyên bị vây, Trung quân đô thống Đoàn Thọ đưa quân lên cứu, bị tử trận. Vua Tự Đức sai ông đi tiếp ứng. Ông ra gần đến nơi, đóng một chỗ, cách xa trại giặc rồi cho làm lễ tế cờ cầu thắng trận.
Có mười đạo quân, ông ra lệnh mỗi đạo phải dùng 10 đồng tiền ( cộng 100 đồng ), mặt trên bôi vôi trắng, mặt dưới hơ đen để làm tiền bói âm dương. Đêm ấy lập đàn tế, các tướng cao cấp đều vào thị lễ. Khi sắp tế, ông đến trước đàn khấn to cho mọi người nghe thấy:
- Nếu thần minh phù hộ, thì xin cho trăm đồng tiền sấp cả hay ngửa cả. Chứ trong 100 đồng tiền này, 99 đồng sấp 1 đồng ngửa, hay 99 đồng ngửa mà 1 đồng sấp, thì bản chức đành đóng quân lại để tìm kế rút lui.
Rồi ông tung 100 đồng tiền lên mặt mâm thau, tướng sĩ trông thấy sấp đen xì cả, đều reo hò mừng rỡ. Có hay đâu, ông đã ngầm thay 100 đồng tiền khác, hai mặt đều tô đen cả.
Ông lễ tạ, rồi thu tiền đem cất và tuyên bố:
- Thế này đủ biết lòng trời còn tựa xã tắc, tướng sĩ phải hết sức đánh giặc, thế nào cũng thắng.
Quân sĩ tin có trời giúp, nên khi ra trận đều nức lòng công phá rất hăng hái. Quả nhiên tỉnh thành được khôi phục ngay.
Dẹp giặc xong ông được thăng Tham tri. Bấy giờ là cuối đời Tự Đức, việc giao thiệp giữa ta và Pháp đương khó khăn, vua lại cử ông ra bắc mưu đồ việc chống Pháp. Ra bắc, vừa gặp lúc nhà Thanh cho Phùng tử Tài, Từ duyên Húc, và quân cờ đen Lưu vĩnh Phúc sang đóng rải rác ở các tỉnh thượng du. Quân Tàu ỷ thế áp bức dân ta rất tàn ác, việc cung ứng lương thực cho họ rất phiền phí, dân chúng ca oán. Ông cho việc mượn binh Tàu sang đánh Pháp là thất sách, nên có làm bài thơ.
Áo chúa cơm vua đã bấy lâu.
Đến khi có giặc phải thuê Tàu.
Từng phen võng giá mau chân nhảy.
Đến bước chông gai thấy mặt đâu?
Tiền bạc quyên hoài dân xác mướp.
Trâu dê ngày hiến đứa răng bầu.
Ai ôi hãy chống trời Nam lại.
Kẻo nữa dân ta phải cạo đầu ….
Phải cạo đầu….theo tục và theo lệnh nhà Mãn Thanh.
Ông ở bắc cho đến khi hoà ước Việt Pháp đã ký xong lại về kinh cung chức. Bấy giờ vua Tự Đức đã mất, triều chính rối loạn, vua kế vị còn nhỏ, Tường Thuyết chuyên quyền, văn thần võ tướng chỉ là một lũ cầu an không ai lo đến việc nước. Ông bực dọc bèn đặt ra một tiệc mời khắp mặt đại thần tới dự. Các món ăn đều làm bằng thịt chó.
Lúc vào tiệc, nhiều người không ăn được thịt chó, ngập ngừng hỏi món ăn khác, thì ông trả lời:
- Bẩm, bữa cơm hôm nay toàn chó cả thôi.
Cơm xong, các quan gọi nước, mãi không thấy người nhà đưa lên – vì ông đã dặn trước đừng đưa – ai nấy đều khô cổ vì rượu. Một lúc sau, người nhà lên ông mắng ầm:
- Lũ chúng bay chỉ biết đứa lớn đứa nhỏ ngồi ăn hại, còn thì không biết việc nước là gì cả.
Các quan đều tím mặt.
Vì ông tính khí khẳng khái không luồn lụy quan trên, vả lại phật ý với Tôn thất Thuyết và Nguyễn văn Tường, nên bị bắt bỏ ngục. Khi ở trong ngục ông có ngâm hai câu:
Nhất giang lưỡng quốc nan phân thuyết.
Tứ nguyệt tam vương thậm bất tường.
- Sông Hương chia hai dòng nước, thì khó nói chuyện: một bên trong một bên đục. Nhưng ngụ ý bên kia toà khâm người Pháp đóng, bên này thành thuộc về Nam triều.
- Trong 4 tháng mà thay đổi 3 vua ( Dục Đức, Hiệp Hoà, Phúc Kiến ) là điều không hay.
Nhưng dụng ý hai chữ câu cuối, một bên chữ Thuyết, một bên chữ Tường, ám chỉ Tôn thất Thuyết và Nguyễn văn Tường.
Sau ông bị đưa đi an trí ở Bình Thuận và mất ở đấy.
Khi làm tri huyện ở Huế, Pháp tấn công chiếm được kinh thành, ông bị cách chức tước, phải đi tiền quân hiệu lực. Ông ngày thường hay nghiên cứu binh thư, có mưu lược lại thêm võ dõng, nên đánh giặc nhiều trận thắng. Sau được khai phục, thăng lần lần lên đến chức Tiễu phủ sứ. Sử chép đã nhiều về ông, nay xin dẫn lại vài chuyện nhỏ.
Ông ra trận không cần dùng nhiều quân, chỉ trọng mưu lược và dũng cảm. Lúc đánh giặc Tàu Ngô Côn, ông bày trận: sớm quay lưng về hướng đông, chiều quay lưng về hướng tây. Thời ấy đánh nhau bằng giáo mác, quân Tàu phần nhiều thức khuya hút thuốc phiện. Sáng dậy, mắt nhắm mắt mở nên hay bị quáng nắng, binh ông nhân đó thừa thế đánh tràn. Trận ấy Ngô Côn thua bỏ lại cả ngàn xác chết.
Khi tỉnh thành Thái Nguyên bị vây, Trung quân đô thống Đoàn Thọ đưa quân lên cứu, bị tử trận. Vua Tự Đức sai ông đi tiếp ứng. Ông ra gần đến nơi, đóng một chỗ, cách xa trại giặc rồi cho làm lễ tế cờ cầu thắng trận.
Có mười đạo quân, ông ra lệnh mỗi đạo phải dùng 10 đồng tiền ( cộng 100 đồng ), mặt trên bôi vôi trắng, mặt dưới hơ đen để làm tiền bói âm dương. Đêm ấy lập đàn tế, các tướng cao cấp đều vào thị lễ. Khi sắp tế, ông đến trước đàn khấn to cho mọi người nghe thấy:
- Nếu thần minh phù hộ, thì xin cho trăm đồng tiền sấp cả hay ngửa cả. Chứ trong 100 đồng tiền này, 99 đồng sấp 1 đồng ngửa, hay 99 đồng ngửa mà 1 đồng sấp, thì bản chức đành đóng quân lại để tìm kế rút lui.
Rồi ông tung 100 đồng tiền lên mặt mâm thau, tướng sĩ trông thấy sấp đen xì cả, đều reo hò mừng rỡ. Có hay đâu, ông đã ngầm thay 100 đồng tiền khác, hai mặt đều tô đen cả.
Ông lễ tạ, rồi thu tiền đem cất và tuyên bố:
- Thế này đủ biết lòng trời còn tựa xã tắc, tướng sĩ phải hết sức đánh giặc, thế nào cũng thắng.
Quân sĩ tin có trời giúp, nên khi ra trận đều nức lòng công phá rất hăng hái. Quả nhiên tỉnh thành được khôi phục ngay.
Dẹp giặc xong ông được thăng Tham tri. Bấy giờ là cuối đời Tự Đức, việc giao thiệp giữa ta và Pháp đương khó khăn, vua lại cử ông ra bắc mưu đồ việc chống Pháp. Ra bắc, vừa gặp lúc nhà Thanh cho Phùng tử Tài, Từ duyên Húc, và quân cờ đen Lưu vĩnh Phúc sang đóng rải rác ở các tỉnh thượng du. Quân Tàu ỷ thế áp bức dân ta rất tàn ác, việc cung ứng lương thực cho họ rất phiền phí, dân chúng ca oán. Ông cho việc mượn binh Tàu sang đánh Pháp là thất sách, nên có làm bài thơ.
Áo chúa cơm vua đã bấy lâu.
Đến khi có giặc phải thuê Tàu.
Từng phen võng giá mau chân nhảy.
Đến bước chông gai thấy mặt đâu?
Tiền bạc quyên hoài dân xác mướp.
Trâu dê ngày hiến đứa răng bầu.
Ai ôi hãy chống trời Nam lại.
Kẻo nữa dân ta phải cạo đầu ….
Phải cạo đầu….theo tục và theo lệnh nhà Mãn Thanh.
Ông ở bắc cho đến khi hoà ước Việt Pháp đã ký xong lại về kinh cung chức. Bấy giờ vua Tự Đức đã mất, triều chính rối loạn, vua kế vị còn nhỏ, Tường Thuyết chuyên quyền, văn thần võ tướng chỉ là một lũ cầu an không ai lo đến việc nước. Ông bực dọc bèn đặt ra một tiệc mời khắp mặt đại thần tới dự. Các món ăn đều làm bằng thịt chó.
Lúc vào tiệc, nhiều người không ăn được thịt chó, ngập ngừng hỏi món ăn khác, thì ông trả lời:
- Bẩm, bữa cơm hôm nay toàn chó cả thôi.
Cơm xong, các quan gọi nước, mãi không thấy người nhà đưa lên – vì ông đã dặn trước đừng đưa – ai nấy đều khô cổ vì rượu. Một lúc sau, người nhà lên ông mắng ầm:
- Lũ chúng bay chỉ biết đứa lớn đứa nhỏ ngồi ăn hại, còn thì không biết việc nước là gì cả.
Các quan đều tím mặt.
Vì ông tính khí khẳng khái không luồn lụy quan trên, vả lại phật ý với Tôn thất Thuyết và Nguyễn văn Tường, nên bị bắt bỏ ngục. Khi ở trong ngục ông có ngâm hai câu:
Nhất giang lưỡng quốc nan phân thuyết.
Tứ nguyệt tam vương thậm bất tường.
- Sông Hương chia hai dòng nước, thì khó nói chuyện: một bên trong một bên đục. Nhưng ngụ ý bên kia toà khâm người Pháp đóng, bên này thành thuộc về Nam triều.
- Trong 4 tháng mà thay đổi 3 vua ( Dục Đức, Hiệp Hoà, Phúc Kiến ) là điều không hay.
Nhưng dụng ý hai chữ câu cuối, một bên chữ Thuyết, một bên chữ Tường, ám chỉ Tôn thất Thuyết và Nguyễn văn Tường.
Sau ông bị đưa đi an trí ở Bình Thuận và mất ở đấy.
NGUYỄN VĂN BẬT (Cử Bật)
NGUYỄN VĂN BẬT (CỬ BẬT)
Thành Thái 19 (1906), trường sư phạm Hà Nội mới mở, chọn các cử nhân tú tài và nhất nhị trường cũ vào học chữ quốc ngữ, để khi mãn khóa bổ đi dạy các tổng . Chương trình thi có những bài toán pháp, thiên văn, địa dư, cách trí, và bài chữ nho dịch ra quốc ngữ .
Viên tri huyện họ Hoàng, giáo học trường sư phạm, ra đầu bài chữ nho, lấy câu đầu sách Đại học, cho thí sinh dịch:
Tri chỉ nhi hậu hữu định, định nhi hậu năng tĩnh, tĩnh nhi hậu năng an, an nhi hậu năng lự, lự nhi hậu năng đắc .
- Có biết đến cùng, sau mới có định, định rồi sau mới tĩnh, tĩnh sau mới yên, yên sau mới có thể nghĩ ngợi tinh tường, nghĩ ngợi tinh tường sau mới được điều phải điều hay .
Các thí sinh cứ theo đúng nghĩa, dịch cho xong bài . Duy có cử nhân Nguyễn Văn Bật ở Sơn Tây, ngày thường hay tỏ vẻ bất bình vì khinh viên huyện Chính không phải là khoa bảng xuất thân, nên cố ý dịch khôi hài để chế nhạo:
Người ta phải biết ăn ở cho phải chẳng, thì chí hướng mới định, muốn thế phải đến làng Tri chỉ mà ở . Chỗ ở đã định rồi, thì phải tìm thú vui, thú vui không đâu bằng phố Năng Tĩnh Nam Định, chỗ ấy có lắm cô đào ở . Đã thú vui rồi, lại muốn yên thân, thì phải tìm đến huyện Năng An mà ở . Đã yên thân rồi, mới nghĩ ngợi được mọi cơ mưu, thí dụ như người làm quan, phải nghĩ làm sao lấy được nhiều tiền . Khi đã có nhiều tiền rồi, phải có trò chơi thỏa thích, như đánh tổ tôm, làm thế nào ù được nhiều, lấy vợ làm sao đẻ được nhiều con, thế gọi là năng đắc .
Viên huyện Hoàng xem bài dịch rất lấy làm căm tức, đưa ra trình hội đồng . Hội đồng gồm có phó bảng họ Phạm cùng các quan viên học chính, và đại diện phủ thống sứ . Viên chủ tịch bảo Bật đọc bài . Bật cứ thản nhiên đọc nguyên văn như trên, không ngượng nghịu gì . Mọi người đều bưng miệng cười .
Họ Phạm hỏi Bật:
- Nghĩa sách thầy học như vậy à ?
Bật thưa:
- Bài dịch này, chủy ý tôi chỉ để riêng cho ông huyện Hoàng xem, chứ không ngờ đến tai hội đồng, xin ngài châm chước cho .
Họ Phạm đề nghị với hội đồng xử phạt cử Bật, từ đấy không được dự thi kỳ nào nữa .
Họ Phạm vốn người làng Bạch Sam, Hưng Yên . Xuất thân phó bảng, trước tòng sự tại ty liêm phóng, đến khoảng 1920, ngồi tổng đốc Thái Bình .
Bấy giờ có tri huyện Vũ Tiên, thường giả tiếng thanh liêm đạo đức, đứng lên quyên tiền làm một ngôi chùa ở giữa cánh đồng, gọi là chùa Hiệp Phật .
Trong chùa có tượng bà Hiệp Phật, tay cầm thanh kiếm, tay cầm cánh buồm, kiếm ngụ ý trừ khử gian ác, buồm ngụ ý cứu vớt chúng sinh . Khi chùa khánh thành, có nhiều thi văn đề vịnh để tán dương hay công kích, trong có 2 bài sau đây được nhiều người để ý:
I
Một mình thơ thẩn bãi tha ma
Ngảnh cổ trông lên tượng Phật bà
Tay muốn giết ai mà kiếm chống ?
Lòng toan che tục, dở buồm ra
Bạc vàng mấy chỉ ghim trong dạ
Son phấn vài đồng phủ trước da
Hiệp Phật chân thân đâu có thế
Si-mo trộn cát đó thôi mà!
II
Bà đứng làm chi đấy hỡi bà ?
Chùa sao không ở, ở tha ma!
Tay mang buồm giả không ăn cánh
Nách cắp gươm cùn muốn tuốt da
Tiếng đã ăn chay còn nếm mặn
Cớ chi bóp trẻ, chẳng tha già
Bây giờ đắc thế thì như thế
Tháng tám năm nào cùng quá ma ...
Hai bài được đưa lên trình tổng đốc, cụ lớn Phạm coi rồi, chỉ cười:
Bạc vàng mấy chỉ ghim trong dạ
Chữ "ghim" được lắm đấy chứ!
Bây giờ đắc thế thì như thế
Tháng tám năm nào cùng quá ma ...
No thì bụt, đói thì ma, chớ sao!
Ông cười nhất là câu:
Tay mang buồm giả không ăn cánh
vì ông tự hỏi tác giả bảo tri huyện "giả vờ không ăn cánh" thì làm ám chỉ viên huyện ăn cánh với ai vào đây nhỉ ?
Khi Phạm về làm thượng thư bộ Hộ, nhân năm ấy chính phủ bán phiếu quốc trái, buộc các làng và các tư gia giầu có phải mua, ông có câu đối:
- Dân phải quốc trái
Có người đối:
- Nam ở Tây về
Câu ra ý nói dân đều phải mua phiếu quốc trái, nhưng chữ "phải", "trái" lại có nghĩa: dân là phải mà quốc (chính quyền) là trái .
Câu đối: nhân năm ấy cuộc Âu chiến vừa kết liễu, người Việt Nam đi lính sang Tây đều được xuống tầu về nước . Hai chữ "ở", "về" cũng lại hàm thêm nghĩa: Người Nam ở lại nước Nam, còn Pháp thì ... cút về Tây!
Hay nhỉ, người Pháp mà lại về Tây ư ? Họ Phạm xem đối, cũng lại ... chỉ cười!
Thành Thái 19 (1906), trường sư phạm Hà Nội mới mở, chọn các cử nhân tú tài và nhất nhị trường cũ vào học chữ quốc ngữ, để khi mãn khóa bổ đi dạy các tổng . Chương trình thi có những bài toán pháp, thiên văn, địa dư, cách trí, và bài chữ nho dịch ra quốc ngữ .
Viên tri huyện họ Hoàng, giáo học trường sư phạm, ra đầu bài chữ nho, lấy câu đầu sách Đại học, cho thí sinh dịch:
Tri chỉ nhi hậu hữu định, định nhi hậu năng tĩnh, tĩnh nhi hậu năng an, an nhi hậu năng lự, lự nhi hậu năng đắc .
- Có biết đến cùng, sau mới có định, định rồi sau mới tĩnh, tĩnh sau mới yên, yên sau mới có thể nghĩ ngợi tinh tường, nghĩ ngợi tinh tường sau mới được điều phải điều hay .
Các thí sinh cứ theo đúng nghĩa, dịch cho xong bài . Duy có cử nhân Nguyễn Văn Bật ở Sơn Tây, ngày thường hay tỏ vẻ bất bình vì khinh viên huyện Chính không phải là khoa bảng xuất thân, nên cố ý dịch khôi hài để chế nhạo:
Người ta phải biết ăn ở cho phải chẳng, thì chí hướng mới định, muốn thế phải đến làng Tri chỉ mà ở . Chỗ ở đã định rồi, thì phải tìm thú vui, thú vui không đâu bằng phố Năng Tĩnh Nam Định, chỗ ấy có lắm cô đào ở . Đã thú vui rồi, lại muốn yên thân, thì phải tìm đến huyện Năng An mà ở . Đã yên thân rồi, mới nghĩ ngợi được mọi cơ mưu, thí dụ như người làm quan, phải nghĩ làm sao lấy được nhiều tiền . Khi đã có nhiều tiền rồi, phải có trò chơi thỏa thích, như đánh tổ tôm, làm thế nào ù được nhiều, lấy vợ làm sao đẻ được nhiều con, thế gọi là năng đắc .
Viên huyện Hoàng xem bài dịch rất lấy làm căm tức, đưa ra trình hội đồng . Hội đồng gồm có phó bảng họ Phạm cùng các quan viên học chính, và đại diện phủ thống sứ . Viên chủ tịch bảo Bật đọc bài . Bật cứ thản nhiên đọc nguyên văn như trên, không ngượng nghịu gì . Mọi người đều bưng miệng cười .
Họ Phạm hỏi Bật:
- Nghĩa sách thầy học như vậy à ?
Bật thưa:
- Bài dịch này, chủy ý tôi chỉ để riêng cho ông huyện Hoàng xem, chứ không ngờ đến tai hội đồng, xin ngài châm chước cho .
Họ Phạm đề nghị với hội đồng xử phạt cử Bật, từ đấy không được dự thi kỳ nào nữa .
Họ Phạm vốn người làng Bạch Sam, Hưng Yên . Xuất thân phó bảng, trước tòng sự tại ty liêm phóng, đến khoảng 1920, ngồi tổng đốc Thái Bình .
Bấy giờ có tri huyện Vũ Tiên, thường giả tiếng thanh liêm đạo đức, đứng lên quyên tiền làm một ngôi chùa ở giữa cánh đồng, gọi là chùa Hiệp Phật .
Trong chùa có tượng bà Hiệp Phật, tay cầm thanh kiếm, tay cầm cánh buồm, kiếm ngụ ý trừ khử gian ác, buồm ngụ ý cứu vớt chúng sinh . Khi chùa khánh thành, có nhiều thi văn đề vịnh để tán dương hay công kích, trong có 2 bài sau đây được nhiều người để ý:
I
Một mình thơ thẩn bãi tha ma
Ngảnh cổ trông lên tượng Phật bà
Tay muốn giết ai mà kiếm chống ?
Lòng toan che tục, dở buồm ra
Bạc vàng mấy chỉ ghim trong dạ
Son phấn vài đồng phủ trước da
Hiệp Phật chân thân đâu có thế
Si-mo trộn cát đó thôi mà!
II
Bà đứng làm chi đấy hỡi bà ?
Chùa sao không ở, ở tha ma!
Tay mang buồm giả không ăn cánh
Nách cắp gươm cùn muốn tuốt da
Tiếng đã ăn chay còn nếm mặn
Cớ chi bóp trẻ, chẳng tha già
Bây giờ đắc thế thì như thế
Tháng tám năm nào cùng quá ma ...
Hai bài được đưa lên trình tổng đốc, cụ lớn Phạm coi rồi, chỉ cười:
Bạc vàng mấy chỉ ghim trong dạ
Chữ "ghim" được lắm đấy chứ!
Bây giờ đắc thế thì như thế
Tháng tám năm nào cùng quá ma ...
No thì bụt, đói thì ma, chớ sao!
Ông cười nhất là câu:
Tay mang buồm giả không ăn cánh
vì ông tự hỏi tác giả bảo tri huyện "giả vờ không ăn cánh" thì làm ám chỉ viên huyện ăn cánh với ai vào đây nhỉ ?
Khi Phạm về làm thượng thư bộ Hộ, nhân năm ấy chính phủ bán phiếu quốc trái, buộc các làng và các tư gia giầu có phải mua, ông có câu đối:
- Dân phải quốc trái
Có người đối:
- Nam ở Tây về
Câu ra ý nói dân đều phải mua phiếu quốc trái, nhưng chữ "phải", "trái" lại có nghĩa: dân là phải mà quốc (chính quyền) là trái .
Câu đối: nhân năm ấy cuộc Âu chiến vừa kết liễu, người Việt Nam đi lính sang Tây đều được xuống tầu về nước . Hai chữ "ở", "về" cũng lại hàm thêm nghĩa: Người Nam ở lại nước Nam, còn Pháp thì ... cút về Tây!
Hay nhỉ, người Pháp mà lại về Tây ư ? Họ Phạm xem đối, cũng lại ... chỉ cười!
NGUYỄN TỬ MẪN (Huyện Hiệp Hòa)
NGUYỄN TỬ MẪN (Huyện Hiệp Hòa)
Người làng Thúy Điền tỉnh Ninh Bình, đỗ cử nhân đời Thiệu Trị. Văn tài cao, khí tiết vững, sở trường về quốc văn. Làm tri huyện Hiệp Hòa Bắc Ninh ít lâu rồi cáo quan về nhà dạy học, nên thường gọi là ông Hiệp Hòa. Bấy giờ, tuổi tuy đã cao mà sức vẫn khỏe, tai mắt đều sáng .
Cứ lệ thường, mỗi ngày viết 6 tờ giấy chép mỗi tờ 8 dòng, ngày nào bận không viết được, thì hôm sau lại viết bù cho đủ số .
Ông có bài thơ tự vịnh:
Má lóm da nhăn, tóc bạc phơ
Mũ tai gương mắt, gậy đùa gua (1)
Có vôi vẫn đỏ ăn trầu cháu (2)
Còn nước, nhưng không uống rượu cô (3)
Một tí bụi trần chưa bén bảng (4)
Năm canh hồn bướm chẳng mơ hồ (5)
Có ai hỏi lão chi là thích ?
Bút, mực, nghiên cùng sách mấy pho ...
(1) Trúc đùa gua là thứ trúc dùng để làm gậy
(2) Phong dao: "Có trầu mà chẳng có cau, làm sao cho đỏ môi nhau thì làm". Nhưng đây là ăn trầu chưa phải giã hộ bằng cối
(3) Phong dao: "Còn trời còn nước còn non, còn cô bán rượu anh còn say sưa"
(4) (5) Cố ý cùng chữ tí đối với chữ canh
Và bài thơ:
Sáng Ngủ Dậy Muộn
Tiếng gà bên gối té tè te
Bóng ác trông ra hé kẽ hè
Cây mấy cành cao, chon chót vót
Hoa năm sắc nở tóe tòe toe
Chim tình bầu bạn kia kìa kịa
Ong nghĩa vua tôi nhé nhẻ nhe
Danh lợi chẳng màng ti tí tị
Trửa trừa trưa dậy khỏe khòe khoe
Bài này tài tình, là ghép 3 chữ cuối câu, cùng văn với nhau, thể vĩ tam thanh .
Sau Hoàng Giáp Liêu có họa, nhưng chỉ họa một vần: ông họa bài này vào lúc kinh thành đã thất thủ, phải bỏ trốn về quê nhà, có ý than thở về thời thế và ngỏ tâm sự mình:
Nhác trông gió cuốn chiếc buồm te
Tấc dạ bâng khuâng cuốc tháng hè
Mõ gỗ chẳng hề khua lóc cóc
Kèn đồng âu những thổi tò loe
Thảnh thơi ngõ hạnh chim đưa đón
Văng vẳng vườn quỳnh nhạn nhắn nhe
Bé nhỏ ví hay cơ hội thế
Nghìn vàng một chữ chẳng đem khoe
Hiệp Hòa có nhiều câu đối nôm, như câu tự vịnh:
Vợ cả vợ hai không vợ cả
Con trai con gái có con trai
Nguyên là ông có hai bà, khi ấy đều mất rồi, mà con trai con gái đều có cháu trai cả .
Lại câu:
Ngoái cách năm hai đạo chiếu đăng quang, bể Bắc trời Nam, táng khảo tỷ, con nào không nước mắt.
Giêng sang độ, bốn ông già mở cảnh, ngày xuân chén hạ (chén mừng) cuộc hương thôn, cái ấy phải non tay
Câu trên: cuối năm ngoái sang năm nay, vua Dục Đức, vua Hiệp Hoà, đều có chiếu đăng quang rồi cùng bị giết . Táng khảo tỷ: vua chết cũng như cha mẹ chết
Câu dưới: lệ làng sang tháng giêng, có bốn ông lên lão ăn mừng, ông cho là một cuộc hương ẩm ăn uống phải vừa vừa thôi .
Nhưng câu đối dụng ý: Bắc Nam đối với Xuân Hạ, con đối với cái, nước mắt đối với non tay .
Lại như câu đối dán chơi:
Sáng sáng ăn sáng rồi; cầm quyển mới, kỳ cui ký cúi viết vài chương, đoạn thu gương mắt, xếp khăn tay; dắt bút vào tam sơn, ngả lưng ngáy khò khò cho tối xuống .
Ngày ngày ngủ ngày dậy; vớ câu cũ, phếu pháo phều phào ngâm mấy khẩu, đứng dậy ngắm chậu hoa, nhìn cây thế, rê chân bách bộ, vỗ tay cười khanh khách với trăng lên .
Và như câu:
Già ưa người ta chiều, rét chiều hong, nồng chiều quạt, lưng đau ruột xót, chiều canh ngọt cơm ngon, cối răng voi, chày sắt nghiền dồn, chiều được lão, chị hầu non chừng một .
Thầy dạy học trò đối, tình đối thú, ngủ đối chơi, tóc bạc da mồi, đối mày ngài mắt phượng, trống bụng cóc dùi son đánh xuống, đối thầy già con hát trẻ vừa đôi .
Khi biện lý La Ngạn Đỗ Huy Uyển lên thọ thất tuần, Hiệp Hòa có câu đối mừng:
Quan trên chữ nhất đứng hai hàng, Thủ khoa Hoàng Giáp
Cụ tuổi bẩy tuần ngồi một cặp, đầu phát bạch canh
- Ý nói con trai cụ Biện lý là Hoàng Giáp Liêu, thi hương đỗ thủ khoa, thi đình đỗ Hoàng Giáp đều là thứ nhất
Câu dưới: cụ ông cụ bà cùng 70 tuổi, đầu đã đổi ra tóc trắng . Nhưng cố ý lấy chữ thủ đối với chữ đầu, hoàng đối với bạch, giáp đối với canh .
Ông mất năm 92 tuổi, tân sửu, Thành thái 13 (1901).
Khi ấy đốc học Ninh Bình Nguyễn Thượng Hiền có câu đối viếng:
Lâm ngoạ hữu dư thanh, tửu tận nhàn hoa do mãn kính
Ngã lai tư nhất kiến, đơn thành tiên hạc hốt lăng không
- Ông nằm ẩn ở trong rừng, có khí tiết thanh cao, uống cạn chén rượu, mà vườn vẫn còn đầy hoa cúc
- Ta đến đây mới gặp cụ một lần, mà bài thuốc tiên đã luyện xong, nay cưỡi hạc bay đi mất
Hoàng giáp Liêu cũng có câu đối viếng ông, câu đối làm sẵn từ mấy năm trước, vì Liêu chết trước ông hai năm:
Độc kỳ văn như tinh như sương, như tuấn mã khinh xa, ư thế hữu danh tư diệc túc
Giả nhi hóa vi đàn vi luân, vi thử can trùng tí, tùy thiên sở phú hựu hà vưu .
- Đọc văn ông sáng như sao, như sương, nhanh như ngựa khỏe, xe nhẹ, ông có danh ở đời như thế là đủ
- Ví ông mất đi, hoá ra cây đàn, ra cái xe, ra gan con chuột, ra càng con sâu tùy ý trời cho không oán trách gì (điền thử can trùng tý, sách Trang tử, điển tuấn mã khin xa lấy ở cổ văn).
Người làng Thúy Điền tỉnh Ninh Bình, đỗ cử nhân đời Thiệu Trị. Văn tài cao, khí tiết vững, sở trường về quốc văn. Làm tri huyện Hiệp Hòa Bắc Ninh ít lâu rồi cáo quan về nhà dạy học, nên thường gọi là ông Hiệp Hòa. Bấy giờ, tuổi tuy đã cao mà sức vẫn khỏe, tai mắt đều sáng .
Cứ lệ thường, mỗi ngày viết 6 tờ giấy chép mỗi tờ 8 dòng, ngày nào bận không viết được, thì hôm sau lại viết bù cho đủ số .
Ông có bài thơ tự vịnh:
Má lóm da nhăn, tóc bạc phơ
Mũ tai gương mắt, gậy đùa gua (1)
Có vôi vẫn đỏ ăn trầu cháu (2)
Còn nước, nhưng không uống rượu cô (3)
Một tí bụi trần chưa bén bảng (4)
Năm canh hồn bướm chẳng mơ hồ (5)
Có ai hỏi lão chi là thích ?
Bút, mực, nghiên cùng sách mấy pho ...
(1) Trúc đùa gua là thứ trúc dùng để làm gậy
(2) Phong dao: "Có trầu mà chẳng có cau, làm sao cho đỏ môi nhau thì làm". Nhưng đây là ăn trầu chưa phải giã hộ bằng cối
(3) Phong dao: "Còn trời còn nước còn non, còn cô bán rượu anh còn say sưa"
(4) (5) Cố ý cùng chữ tí đối với chữ canh
Và bài thơ:
Sáng Ngủ Dậy Muộn
Tiếng gà bên gối té tè te
Bóng ác trông ra hé kẽ hè
Cây mấy cành cao, chon chót vót
Hoa năm sắc nở tóe tòe toe
Chim tình bầu bạn kia kìa kịa
Ong nghĩa vua tôi nhé nhẻ nhe
Danh lợi chẳng màng ti tí tị
Trửa trừa trưa dậy khỏe khòe khoe
Bài này tài tình, là ghép 3 chữ cuối câu, cùng văn với nhau, thể vĩ tam thanh .
Sau Hoàng Giáp Liêu có họa, nhưng chỉ họa một vần: ông họa bài này vào lúc kinh thành đã thất thủ, phải bỏ trốn về quê nhà, có ý than thở về thời thế và ngỏ tâm sự mình:
Nhác trông gió cuốn chiếc buồm te
Tấc dạ bâng khuâng cuốc tháng hè
Mõ gỗ chẳng hề khua lóc cóc
Kèn đồng âu những thổi tò loe
Thảnh thơi ngõ hạnh chim đưa đón
Văng vẳng vườn quỳnh nhạn nhắn nhe
Bé nhỏ ví hay cơ hội thế
Nghìn vàng một chữ chẳng đem khoe
Hiệp Hòa có nhiều câu đối nôm, như câu tự vịnh:
Vợ cả vợ hai không vợ cả
Con trai con gái có con trai
Nguyên là ông có hai bà, khi ấy đều mất rồi, mà con trai con gái đều có cháu trai cả .
Lại câu:
Ngoái cách năm hai đạo chiếu đăng quang, bể Bắc trời Nam, táng khảo tỷ, con nào không nước mắt.
Giêng sang độ, bốn ông già mở cảnh, ngày xuân chén hạ (chén mừng) cuộc hương thôn, cái ấy phải non tay
Câu trên: cuối năm ngoái sang năm nay, vua Dục Đức, vua Hiệp Hoà, đều có chiếu đăng quang rồi cùng bị giết . Táng khảo tỷ: vua chết cũng như cha mẹ chết
Câu dưới: lệ làng sang tháng giêng, có bốn ông lên lão ăn mừng, ông cho là một cuộc hương ẩm ăn uống phải vừa vừa thôi .
Nhưng câu đối dụng ý: Bắc Nam đối với Xuân Hạ, con đối với cái, nước mắt đối với non tay .
Lại như câu đối dán chơi:
Sáng sáng ăn sáng rồi; cầm quyển mới, kỳ cui ký cúi viết vài chương, đoạn thu gương mắt, xếp khăn tay; dắt bút vào tam sơn, ngả lưng ngáy khò khò cho tối xuống .
Ngày ngày ngủ ngày dậy; vớ câu cũ, phếu pháo phều phào ngâm mấy khẩu, đứng dậy ngắm chậu hoa, nhìn cây thế, rê chân bách bộ, vỗ tay cười khanh khách với trăng lên .
Và như câu:
Già ưa người ta chiều, rét chiều hong, nồng chiều quạt, lưng đau ruột xót, chiều canh ngọt cơm ngon, cối răng voi, chày sắt nghiền dồn, chiều được lão, chị hầu non chừng một .
Thầy dạy học trò đối, tình đối thú, ngủ đối chơi, tóc bạc da mồi, đối mày ngài mắt phượng, trống bụng cóc dùi son đánh xuống, đối thầy già con hát trẻ vừa đôi .
Khi biện lý La Ngạn Đỗ Huy Uyển lên thọ thất tuần, Hiệp Hòa có câu đối mừng:
Quan trên chữ nhất đứng hai hàng, Thủ khoa Hoàng Giáp
Cụ tuổi bẩy tuần ngồi một cặp, đầu phát bạch canh
- Ý nói con trai cụ Biện lý là Hoàng Giáp Liêu, thi hương đỗ thủ khoa, thi đình đỗ Hoàng Giáp đều là thứ nhất
Câu dưới: cụ ông cụ bà cùng 70 tuổi, đầu đã đổi ra tóc trắng . Nhưng cố ý lấy chữ thủ đối với chữ đầu, hoàng đối với bạch, giáp đối với canh .
Ông mất năm 92 tuổi, tân sửu, Thành thái 13 (1901).
Khi ấy đốc học Ninh Bình Nguyễn Thượng Hiền có câu đối viếng:
Lâm ngoạ hữu dư thanh, tửu tận nhàn hoa do mãn kính
Ngã lai tư nhất kiến, đơn thành tiên hạc hốt lăng không
- Ông nằm ẩn ở trong rừng, có khí tiết thanh cao, uống cạn chén rượu, mà vườn vẫn còn đầy hoa cúc
- Ta đến đây mới gặp cụ một lần, mà bài thuốc tiên đã luyện xong, nay cưỡi hạc bay đi mất
Hoàng giáp Liêu cũng có câu đối viếng ông, câu đối làm sẵn từ mấy năm trước, vì Liêu chết trước ông hai năm:
Độc kỳ văn như tinh như sương, như tuấn mã khinh xa, ư thế hữu danh tư diệc túc
Giả nhi hóa vi đàn vi luân, vi thử can trùng tí, tùy thiên sở phú hựu hà vưu .
- Đọc văn ông sáng như sao, như sương, nhanh như ngựa khỏe, xe nhẹ, ông có danh ở đời như thế là đủ
- Ví ông mất đi, hoá ra cây đàn, ra cái xe, ra gan con chuột, ra càng con sâu tùy ý trời cho không oán trách gì (điền thử can trùng tý, sách Trang tử, điển tuấn mã khin xa lấy ở cổ văn).
NGUYỄN TƯ GIẢN (1823 – 1890)
Vốn tên là Văn Phú, tự Tuân Húc, sau vua Tự Đức thấy tên đó tầm thường quá, đổi lại là Tư Giản. Người huyện Đông Ngạn, nay là phủ Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh.
Đỗ tiến sĩ năm 22 tuổi ( 1844 Thiệu Trị 4 ); làm quan từ đời Thiệu Trị đến Đồng Khánh thì lên tới chức tổng đốc.
Năm 1857 ông đệ bản điều trần về việc trị thủy tiếp đó được cử sung Biện lý Đô chính sự vụ ở Bắc kỳ.
Năm 1868 được sung phó sứ phái bộ sang Trung Hoa giao thiệp, có ý muốn nhờ nhà Thanh giúp quân chống Pháp.
Sau khi Nam kỳ thành thuộc địa, Nguyễn tư Giản xin sang nước Đức cầu viện song triều đình không cho. Đến năm Ất Dậu ( 1885 ) các vị Văn thân đều bị ngờ vực phải trốn tránh. Nên Nguyễn tư Giản phải chạy về Kim Sơn lánh nạn, ở với linh mục Trần Lục. Linh mục trọng ông là bực hay chữ, nên mời về Phát Diệm mở trường dạy học.
Trước ông có làm bài bia ở Sinh từ, đền thờ sống Kinh lược Nguyễn hữu Độ, có câu:
Tứ hải phong trần chi hậu, doãn tạ hiền lao.
Cửu chân sơn thủy chi linh, đĩnh sinh anh kiệt.
Tri ngã, tội ngã, thân cư lao oán tri trung.
Dĩ nhân, trị nhân, công tại thị phi chi ngoại.
- Đương lúc bốn bề gió bụi, nhờ cái công khó nhọc của ông mới định được đại cục.
- Khí thiêng sông núi ở quận Cửu chân ( Thanh Hoá ) sinh ra người anh kiệt.
- Kẻ biết lòng ta, kẻ đổ tội cho ta, mình ở vào giữa chỗ lao oán.
- Lấy đạo người mà trị người, công mình ở ngoài chỗ phải trái.
Tri ngã tội ngã là lời Khổng Tử, sau Mạnh Tử dẫn lại, nói ngài làm sách Xuân Thu, người đời sau kẻ biết lòng ngài, và kẻ buộc tội ngài, đều vì sách Xuân Thu cả. Chữ dĩ nhân trị nhân, ở sách Trung Dung, lời Tư Tử.
Cách ít lâu Kinh lược Nguyễn hữu Độ tạ thế, quan cữu đưa về Huế; đi đường thủy theo sông Đáy qua Kim Sơn rồi ra biển. Bấy giờ Trần Lục là Khâm sai tuyên phủ sứ, sức dân huyện Kim Sơn, làm trạm để đón tế một tuần. Các quan tỉnh Ninh Bình có xin Nguyễn tư Giản làm cho câu đối, và bốn chữ dán ở trạm tế. Bốn chữ là:
Công quy bất phục.
- Chữ ở Kinh thi, Châu Công nhà Châu đi đánh Đông Sơn, khi trở về dân Đông Sơn nhớ, muốn giữ lại.
Câu đối:
Thiên hà vi đoạt chi. Hà sóc tinh kỳ vân biến sắc.
Công tự thử viễn hỹ, Giang đình phong vũ trúc thành lâm.
- Trời sao vội cướp ông, cờ tinh kỳ đất Hà sóc mây đã đổi sắc.
* Câu này lấy tích Lý quang Bật đời Đường đi đánh giặc về, cờ tinh kỳ rực rỡ. Ý nói nay cờ đã đổi sắc là vị chủ tướng chết.
- Ông từ đây đi xa hẳn, mưa gió chốn Giang đình trúc mọc thành rừng.
* Lấy điển Khâu Chuẩn đời Tống. Khi mất, đưa quan cữu đi, quan dân nhớ ơn làm trạm tế. Những cây tre cắm làm rạp tế, sau mọc thành rừng.
Sau Nguyễn tư Giản mất ở Kim Sơn, Yên Đổ có viếng câu đối.
Nhất bi tuyệt bút sinh từ hạ.
Thiên cổ du hồn Cự lĩnh gian.
- Một bài văn bia ở sinh từ ( Nguyễn hữu Độ ) là tuyệt bút.
- Thiên cổ du hồn còn phảng phất ở đường Cự lĩnh ( Kim Sơn )
Câu trên nói Nguyễn tư Giản làm văn bia ở Sinh từ, quá tâng bốc Nguyễn hữu Độ. Tuyệt bút: là lấy tích: Xuân Thu tuyệt bút ư hoạch lân ( Khổng Tử làm sách Xuân Thu đến chữ hoạch lân là hết, rồi ngài mất ). Đường Cự Lĩnh thuộc Kim Sơn là chỗ Trần Lục ở.
Yên Đổ lấy hai việc ra chỉ trích: khen gian thần Nguyễn hữu Độ, và ở nhờ linh mục Trần Lục.
Nguyễn tư Giản còn để lại những tác phẩm: “ Thạch nông thi văn tập ”; “ Thạch nông tùng thoại ” và “ Yên thiều thi thảo ”. Ngoài ra, ông có dự vào việc khảo duyệt bộ “ Khâm định Việt sử thông giám cương mục ”.
Đỗ tiến sĩ năm 22 tuổi ( 1844 Thiệu Trị 4 ); làm quan từ đời Thiệu Trị đến Đồng Khánh thì lên tới chức tổng đốc.
Năm 1857 ông đệ bản điều trần về việc trị thủy tiếp đó được cử sung Biện lý Đô chính sự vụ ở Bắc kỳ.
Năm 1868 được sung phó sứ phái bộ sang Trung Hoa giao thiệp, có ý muốn nhờ nhà Thanh giúp quân chống Pháp.
Sau khi Nam kỳ thành thuộc địa, Nguyễn tư Giản xin sang nước Đức cầu viện song triều đình không cho. Đến năm Ất Dậu ( 1885 ) các vị Văn thân đều bị ngờ vực phải trốn tránh. Nên Nguyễn tư Giản phải chạy về Kim Sơn lánh nạn, ở với linh mục Trần Lục. Linh mục trọng ông là bực hay chữ, nên mời về Phát Diệm mở trường dạy học.
Trước ông có làm bài bia ở Sinh từ, đền thờ sống Kinh lược Nguyễn hữu Độ, có câu:
Tứ hải phong trần chi hậu, doãn tạ hiền lao.
Cửu chân sơn thủy chi linh, đĩnh sinh anh kiệt.
Tri ngã, tội ngã, thân cư lao oán tri trung.
Dĩ nhân, trị nhân, công tại thị phi chi ngoại.
- Đương lúc bốn bề gió bụi, nhờ cái công khó nhọc của ông mới định được đại cục.
- Khí thiêng sông núi ở quận Cửu chân ( Thanh Hoá ) sinh ra người anh kiệt.
- Kẻ biết lòng ta, kẻ đổ tội cho ta, mình ở vào giữa chỗ lao oán.
- Lấy đạo người mà trị người, công mình ở ngoài chỗ phải trái.
Tri ngã tội ngã là lời Khổng Tử, sau Mạnh Tử dẫn lại, nói ngài làm sách Xuân Thu, người đời sau kẻ biết lòng ngài, và kẻ buộc tội ngài, đều vì sách Xuân Thu cả. Chữ dĩ nhân trị nhân, ở sách Trung Dung, lời Tư Tử.
Cách ít lâu Kinh lược Nguyễn hữu Độ tạ thế, quan cữu đưa về Huế; đi đường thủy theo sông Đáy qua Kim Sơn rồi ra biển. Bấy giờ Trần Lục là Khâm sai tuyên phủ sứ, sức dân huyện Kim Sơn, làm trạm để đón tế một tuần. Các quan tỉnh Ninh Bình có xin Nguyễn tư Giản làm cho câu đối, và bốn chữ dán ở trạm tế. Bốn chữ là:
Công quy bất phục.
- Chữ ở Kinh thi, Châu Công nhà Châu đi đánh Đông Sơn, khi trở về dân Đông Sơn nhớ, muốn giữ lại.
Câu đối:
Thiên hà vi đoạt chi. Hà sóc tinh kỳ vân biến sắc.
Công tự thử viễn hỹ, Giang đình phong vũ trúc thành lâm.
- Trời sao vội cướp ông, cờ tinh kỳ đất Hà sóc mây đã đổi sắc.
* Câu này lấy tích Lý quang Bật đời Đường đi đánh giặc về, cờ tinh kỳ rực rỡ. Ý nói nay cờ đã đổi sắc là vị chủ tướng chết.
- Ông từ đây đi xa hẳn, mưa gió chốn Giang đình trúc mọc thành rừng.
* Lấy điển Khâu Chuẩn đời Tống. Khi mất, đưa quan cữu đi, quan dân nhớ ơn làm trạm tế. Những cây tre cắm làm rạp tế, sau mọc thành rừng.
Sau Nguyễn tư Giản mất ở Kim Sơn, Yên Đổ có viếng câu đối.
Nhất bi tuyệt bút sinh từ hạ.
Thiên cổ du hồn Cự lĩnh gian.
- Một bài văn bia ở sinh từ ( Nguyễn hữu Độ ) là tuyệt bút.
- Thiên cổ du hồn còn phảng phất ở đường Cự lĩnh ( Kim Sơn )
Câu trên nói Nguyễn tư Giản làm văn bia ở Sinh từ, quá tâng bốc Nguyễn hữu Độ. Tuyệt bút: là lấy tích: Xuân Thu tuyệt bút ư hoạch lân ( Khổng Tử làm sách Xuân Thu đến chữ hoạch lân là hết, rồi ngài mất ). Đường Cự Lĩnh thuộc Kim Sơn là chỗ Trần Lục ở.
Yên Đổ lấy hai việc ra chỉ trích: khen gian thần Nguyễn hữu Độ, và ở nhờ linh mục Trần Lục.
Nguyễn tư Giản còn để lại những tác phẩm: “ Thạch nông thi văn tập ”; “ Thạch nông tùng thoại ” và “ Yên thiều thi thảo ”. Ngoài ra, ông có dự vào việc khảo duyệt bộ “ Khâm định Việt sử thông giám cương mục ”.
NGUYỄN THƯỢNG HIỀN (Nghè Liên Bạt)
Biệt hiệu Mai Sơn, người làng Liên Bạt tỉnh Hà Đông, sinh năm 1867, con của Nguyễn thượng Phiên.
Nguyễn thượng Hiền văn chương lỗi lạc, nổi tiếng tài hoa. Khoa thi hương Giáp Thân đời Kiến Phúc ( 1884 ), 17 tuổi đỗ cử nhân, thủ khoa là Vũ phạm Hàm.
Nguyễn tuy quán ở Hà Đông, nhưng gia đình lại lập nghiệp riêng ở vùng quê Thanh Hoá. Có lần phải lên tỉnh mướn nhà để tị nạn hơn một năm, ông thấy đời sống thành thị nhộn nhịp không hợp với tính hiếu tĩnh, nên cảm khái làm bài thơ:
Hơn một năm nay vẫn ở thuê.
Mới hay thành thị khác nhà quê.
Ăn tiêu củi nước coi mà tốn.
Dáo dở lòng người nghĩ cũng ghê.
Xe ngựa kéo quanh trò lục sở.
Khố khăn đổ lộn đám ba que.
Đất này rộn rã lâu sao được.
Cũng tính nay mai sắp dọn về.
Khi đỗ cử nhân rồi, có ý chán đời, không thiết công danh phú quý, bỏ nhà vào núi học đạo. Sau vì anh ông mất sớm, gia đình cho tìm về bắt lấy vợ, ông đành về, kết duyên với con gái của Tôn thất Thuyết.
Năm Ất Dậu ( Hàm Nghi 1885 ), đi thi hội, đã trúng cách, chưa kịp truyền loa thì kinh thành thất thủ, ông phải bỏ về. Đến khoa Nhâm Thìn ( Thành Thái 1892 ), ông lại vào thi hội, nhưng không phải thi chỉ vào kỳ đình đối.
Khi truyền loa, ông đỗ Hoàng giáp. Vũ phạm Hàm đỗ tam nguyên thám hoa.
Được bổ đốc học Ninh Bình, ông ưa tiêu dao sơn thủy, có câu đối dán ở thư phòng để tỏ ý mình.
Bích vân phương thảo, cung thi liệu.
Hoàng cúc thanh sơn xứng hoạn tình.
- Lấy mây biếc cỏ thơm để cung vào món làm thơ.
- Hoa cúc vàng ở núi, thanh đạm hợp với cách của ông.
Ông có bài thơ đề Thúy Sơn:
Nhất loan sơn thủy, nhất lương đài.
Kim cổ tao nhân tự khứ lai.
Bạch thạch bán duyên, danh cú lão.
Hoàng hoa nhất hướng, hộ thành khai.
Điểu tri sự khứ ninh đề thụ.
Sơn khiếp trần xâm cố yểm đài.
Ngữ liễn thiên chương dư vận sự.
Kim chi hoang kính tích bồng lai.
Bản dịch của Nhân Phủ:
Một làn nước biếc, một lương đài.
Mạc khách đi về trước tới nay.
Đá trắng có duyên mòn chữ khắc.
Cúc vàng đồng loạt nở hoa đầy.
Việc hư, chim biếc: cây cao hót.
Bụi bám, non ghê: rêu phủ đầy.
Bút ngự, xe loan trơ lại đó.
Nay là rừng rậm, trước bồng lai..
Ông ngồi đốc học Ninh Bình, sau chuyển ra đốc học Nam Định, nên tục gọi là ông đốc Nam. Đến năm Thành Thái 19 ( 1907 ), vua phải tốn vị, ông lên phủ toàn quyền chất vấn và yêu cầu phục lại ngôi vua, nhưng không được toại ý, ông liền cáo quan, về phụng dưỡng hai thân. Đến khi hai cụ tạ thế, tang lễ xong, ông trốn sang Tầu, vận động cuộc cách mạng.
Ông cùng Phan bội Châu sáng lập Việt Nam Quang Phục hội. Sau thấy công cuộc gặp nhiều trở ngại, ông sinh chán nản, cạo đầu vào tu ở chùa Thường tích quang Hàng Châu ( Chiết Giang ) được ít lâu thì từ trần.
Nhà chùa theo lời ông dặn lại, đem hỏa táng và đổ tro xuống sông Tiền Đường.
Nguyễn thượng Hiền văn chương lỗi lạc, nổi tiếng tài hoa. Khoa thi hương Giáp Thân đời Kiến Phúc ( 1884 ), 17 tuổi đỗ cử nhân, thủ khoa là Vũ phạm Hàm.
Nguyễn tuy quán ở Hà Đông, nhưng gia đình lại lập nghiệp riêng ở vùng quê Thanh Hoá. Có lần phải lên tỉnh mướn nhà để tị nạn hơn một năm, ông thấy đời sống thành thị nhộn nhịp không hợp với tính hiếu tĩnh, nên cảm khái làm bài thơ:
Hơn một năm nay vẫn ở thuê.
Mới hay thành thị khác nhà quê.
Ăn tiêu củi nước coi mà tốn.
Dáo dở lòng người nghĩ cũng ghê.
Xe ngựa kéo quanh trò lục sở.
Khố khăn đổ lộn đám ba que.
Đất này rộn rã lâu sao được.
Cũng tính nay mai sắp dọn về.
Khi đỗ cử nhân rồi, có ý chán đời, không thiết công danh phú quý, bỏ nhà vào núi học đạo. Sau vì anh ông mất sớm, gia đình cho tìm về bắt lấy vợ, ông đành về, kết duyên với con gái của Tôn thất Thuyết.
Năm Ất Dậu ( Hàm Nghi 1885 ), đi thi hội, đã trúng cách, chưa kịp truyền loa thì kinh thành thất thủ, ông phải bỏ về. Đến khoa Nhâm Thìn ( Thành Thái 1892 ), ông lại vào thi hội, nhưng không phải thi chỉ vào kỳ đình đối.
Khi truyền loa, ông đỗ Hoàng giáp. Vũ phạm Hàm đỗ tam nguyên thám hoa.
Được bổ đốc học Ninh Bình, ông ưa tiêu dao sơn thủy, có câu đối dán ở thư phòng để tỏ ý mình.
Bích vân phương thảo, cung thi liệu.
Hoàng cúc thanh sơn xứng hoạn tình.
- Lấy mây biếc cỏ thơm để cung vào món làm thơ.
- Hoa cúc vàng ở núi, thanh đạm hợp với cách của ông.
Ông có bài thơ đề Thúy Sơn:
Nhất loan sơn thủy, nhất lương đài.
Kim cổ tao nhân tự khứ lai.
Bạch thạch bán duyên, danh cú lão.
Hoàng hoa nhất hướng, hộ thành khai.
Điểu tri sự khứ ninh đề thụ.
Sơn khiếp trần xâm cố yểm đài.
Ngữ liễn thiên chương dư vận sự.
Kim chi hoang kính tích bồng lai.
Bản dịch của Nhân Phủ:
Một làn nước biếc, một lương đài.
Mạc khách đi về trước tới nay.
Đá trắng có duyên mòn chữ khắc.
Cúc vàng đồng loạt nở hoa đầy.
Việc hư, chim biếc: cây cao hót.
Bụi bám, non ghê: rêu phủ đầy.
Bút ngự, xe loan trơ lại đó.
Nay là rừng rậm, trước bồng lai..
Ông ngồi đốc học Ninh Bình, sau chuyển ra đốc học Nam Định, nên tục gọi là ông đốc Nam. Đến năm Thành Thái 19 ( 1907 ), vua phải tốn vị, ông lên phủ toàn quyền chất vấn và yêu cầu phục lại ngôi vua, nhưng không được toại ý, ông liền cáo quan, về phụng dưỡng hai thân. Đến khi hai cụ tạ thế, tang lễ xong, ông trốn sang Tầu, vận động cuộc cách mạng.
Ông cùng Phan bội Châu sáng lập Việt Nam Quang Phục hội. Sau thấy công cuộc gặp nhiều trở ngại, ông sinh chán nản, cạo đầu vào tu ở chùa Thường tích quang Hàng Châu ( Chiết Giang ) được ít lâu thì từ trần.
Nhà chùa theo lời ông dặn lại, đem hỏa táng và đổ tro xuống sông Tiền Đường.
NGUYỄN QUYỀN (Huấn Quyền)
Khi Đông Kinh nghĩa thục bị đóng cửa, các yếu nhân bị bắt, dân chúng Bắc Hà lấy làm đau xót, có truyền tụng một bài ca kể lại những chuyện nghĩa thục đã thực hiện. Nay xin dẫn một đoạn do Huỳnh thúc Kháng nhớ được:
Cơn mưa gió trời Nam lảng bảng.
Bước anh hùng nhiều chặng gian truân.
Gẫm xem máy tạo xoay vần.
Gây nên một cuộc cách tân cũng kỳ.
Khắp thân sỹ lưỡng kỳ Nam Bắc.
Bỗng giật mình chợt tỉnh cơn mê.
Học, thương xoay đủ mọi nghề.
Cái hồn ái quốc, gọi về cũng mau.
Hồn đã tỉnh bảo nhau cùng dậy.
Chưa học bò, vội chạy đua theo.
Khi lên như gió thổi đều.
Trong hò chống thuế, ngoài reo phá thành.
Việc tự lập người mình còn dại.
Sức cường quyền ép lại càng đau.
Tội danh đổ đám nho lưu.
Bắc kỳ thân sỹ, đứng đầu năm tên.
Người tỉnh Bắc, Nguyễn Quyền là một….
Nguyễn Quyền người tỉnh Bắc Ninh, thi đỗ tú tài, được bổ làm huấn đạo, tỉnh Lạng Sơn nên được gọi là Huấn Quyền.
Sau từ quan, năm 1907 ông cùng các đồng chí sáng lập ra Đông Kinh nghĩa thục, ở Hà Nội, mục đích cổ súy phong trào cải cách duy tân. Để cung ứng cho nhu cầu của nghĩa thục, ông lập ra nhà buôn Hồng tân hưng ( lấy nghĩa Hồng Lạc mới dấy lên ) bán đồ công nghệ nội hoá.
Năm 1908 xảy ra việc Hà thành đầu độc, nhà cầm quyền đóng cửa nghĩa thục, ông bị bắt đày ra Côn đảo, cùng đồng chí Lê Đại án chung thân. Còn hai đồng chí nữa là Nguyễn sĩ Sác và Hoàng tăng Bí chỉ bị giam giữ ít lâu ở Hà Nội. Rồi Hoàng tăng Bí được nhạc gia Cao xuân Dục nhận lãnh, đưa về theo học tại Huế, thi đỗ phó bảng. Nguyễn sĩ Sác đỗ tiến sĩ.
Lê Đại được tin này giận lắm, làm đôi câu đối:
- Quách thây chúng nó, thi mà chi, đỗ nữa mà chi, nào những khi rượu đầy bàn, đờn đầy vách, sách đầy án, bạn đầy nhà, nghêu ngao trăng gió bốn mùa, chơi đã đủ mùi, thôi có lạ chi phường mặt trắng.
- Còn có bọn ta tù chả sợ, đầy cũng chả sợ, cho đến lúc miệng như tép, mép như rồng, tiếng như cồng, mắt như chớp, xốc vác non sông một gánh, làm con nên việc, bấy giờ sẽ hỏi bạn non xanh.
Nguyễn Quyền cũng có bài thơ có ý mỉa mai:
Cầu trời cầu biển quản gì công.
Dệt gấm khi nào mượn má hồng.
Đổi đập kình nghê muôn sóng lớp.
Đứng trơ mưa gió một chùm thông.
Hỏi han ả Lý vừng trăng bạc.
Chờ đợi nàng Tô chén rượu nồng.
Đắp lạnh quạt nồng ai đó tá.
Hiếu tình này vẫn hiếu tình chung.
Cơn mưa gió trời Nam lảng bảng.
Bước anh hùng nhiều chặng gian truân.
Gẫm xem máy tạo xoay vần.
Gây nên một cuộc cách tân cũng kỳ.
Khắp thân sỹ lưỡng kỳ Nam Bắc.
Bỗng giật mình chợt tỉnh cơn mê.
Học, thương xoay đủ mọi nghề.
Cái hồn ái quốc, gọi về cũng mau.
Hồn đã tỉnh bảo nhau cùng dậy.
Chưa học bò, vội chạy đua theo.
Khi lên như gió thổi đều.
Trong hò chống thuế, ngoài reo phá thành.
Việc tự lập người mình còn dại.
Sức cường quyền ép lại càng đau.
Tội danh đổ đám nho lưu.
Bắc kỳ thân sỹ, đứng đầu năm tên.
Người tỉnh Bắc, Nguyễn Quyền là một….
Nguyễn Quyền người tỉnh Bắc Ninh, thi đỗ tú tài, được bổ làm huấn đạo, tỉnh Lạng Sơn nên được gọi là Huấn Quyền.
Sau từ quan, năm 1907 ông cùng các đồng chí sáng lập ra Đông Kinh nghĩa thục, ở Hà Nội, mục đích cổ súy phong trào cải cách duy tân. Để cung ứng cho nhu cầu của nghĩa thục, ông lập ra nhà buôn Hồng tân hưng ( lấy nghĩa Hồng Lạc mới dấy lên ) bán đồ công nghệ nội hoá.
Năm 1908 xảy ra việc Hà thành đầu độc, nhà cầm quyền đóng cửa nghĩa thục, ông bị bắt đày ra Côn đảo, cùng đồng chí Lê Đại án chung thân. Còn hai đồng chí nữa là Nguyễn sĩ Sác và Hoàng tăng Bí chỉ bị giam giữ ít lâu ở Hà Nội. Rồi Hoàng tăng Bí được nhạc gia Cao xuân Dục nhận lãnh, đưa về theo học tại Huế, thi đỗ phó bảng. Nguyễn sĩ Sác đỗ tiến sĩ.
Lê Đại được tin này giận lắm, làm đôi câu đối:
- Quách thây chúng nó, thi mà chi, đỗ nữa mà chi, nào những khi rượu đầy bàn, đờn đầy vách, sách đầy án, bạn đầy nhà, nghêu ngao trăng gió bốn mùa, chơi đã đủ mùi, thôi có lạ chi phường mặt trắng.
- Còn có bọn ta tù chả sợ, đầy cũng chả sợ, cho đến lúc miệng như tép, mép như rồng, tiếng như cồng, mắt như chớp, xốc vác non sông một gánh, làm con nên việc, bấy giờ sẽ hỏi bạn non xanh.
Nguyễn Quyền cũng có bài thơ có ý mỉa mai:
Cầu trời cầu biển quản gì công.
Dệt gấm khi nào mượn má hồng.
Đổi đập kình nghê muôn sóng lớp.
Đứng trơ mưa gió một chùm thông.
Hỏi han ả Lý vừng trăng bạc.
Chờ đợi nàng Tô chén rượu nồng.
Đắp lạnh quạt nồng ai đó tá.
Hiếu tình này vẫn hiếu tình chung.
NGUYỄN KHUYẾN (Tam nguyên Yên Đổ)
Người làng Yên Đổ, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam. Sinh năm 1835, trong một gia đình khoa bảng. Nguyên tên là Nguyễn tất Thắng, sau thi không đỗ mới đổi ra Nguyễn Khuyến, để tự cảnh tỉnh.
Năm 1864, đỗ Giải nguyên trường Hà Nội, năm 1871 đổ Hội nguyên và Đình nguyên, tức là Tam nguyên. Ba giải nhất, vì ít ai đỗ cao như thế nên mọi người gọi cụ là Tam nguyên Yên Đổ.
Sơ bổ đốc học Thanh Hoá, rồi thăng bố chánh Quảng Ngãi. Năm 1882, cử làm thương biện Hà Nội giữ việc thương thuyết với Pháp, sau bổ nhiệm tổng đốc Sơn Hưng Tuyên. Đến năm 1885, lấy cớ đau mắt cáo quan về nhà. Năm 1910 ( Canh Tuất ) tạ thế.
Thơ ca câu đối của Yên Đổ. Đây chỉ xin nhắc lại một vài giai thoại ít người biết, còn mấy bài thơ đã phổ biến đã chép lại để cho rõ tình tiết.
Tương truyền rằng khi còn ít tuổi, mắt ông đã kèm nhèm, vậy mà ngấp nghé cô con gái của ông Cử ở làng bên. Cô này bèn đem chuyện mách cha, ông Cử bèn cho mời ông đến, buộc làm một bài thơ, lấy đầu đề là: Cua chơi trăng. Lấy chữ trăng làm vần:
Thấy cái đầu đề có vẻ dè bỉu, ông tuy bực mình, song vẫn ngâm ngay tám câu:
Vằng vặc đêm thu ánh xế chừng.
Ham thanh, cua mới muốn chơi trăng.
Nghiêng mai lách ngược qua dòng biếc.
Ghé yếm bò ngang nhởn bóng hằng.
Cung quế chờn vờn hương mới bén.
Vườn đào thoang thoảng gió như nâng.
Một mai cá nước cua vui phận.
Trăng muốn tìm cua có được chăng.
Ông Cử thấy lời thơ hoạt bát và ý thơ khẳng khái, sinh lòng mến phục, nên đổi thái độ, tiếp đãi ân cần. Khi Nguyễn từ về, ông tiễn mãi ra cổng làng. Đến đây, thấy chùa làng có cây thông mọc bên một tháp cao, ông Cử tay trỏ miệng nói:
- Giờ xin thầy vịnh cái cảnh này đã rồi hãy về.
Yên Đổ đọc ngay:
Hữu nhất thanh tùng tại tháp tế.
Tháp, tùng trường đoản bất tương tề.
Thế nhân chỉ đạo thanh tùng đoản.
Tha nhật tùng cao tháp hựu đê.
Bản dịch của Nhân Phủ:
Thông, tháp hai cây đứng cạnh nhau.
Tháp dài, thông ngắn ngắm không đều.
Miệng đời chỉ nói thông sao thấp.
Thông mọc rồi cao, tháp thấm đâu.
Ông Cử khen ngợi không ngớt, sai học trò vác năm quan tiền theo Yên Đổ đến tận nhà, giao xong mới được về.
Không rõ về sau, cua có được chơi trăng không, nhưng cua cũng đã được dịp trổ tài nói ngang.
Yên Đổ là bạn thiết với Vân Đình, hai ông lại thường hay thi tài văn chương với nhau. Có lần đương cùng đi chơi trên đường cái quan, chợt thấy đằng trước có người ăn mày để bị trên bờ cỏ để lẩn vào sau bụi cây. Vân Đình đố Yên Đổ tìm được điển tích nào thích hợp với sự kiện ấy. Yên Đổ đọc:
Phương thốn loạn hĩ, sả Bị chi Tháo.
- Truyện Tam Quốc - Từ Thứ được thư của mẹ, trong bụng rối loạn, bỏ Lưu Bị đi sang với Tào Tháo.
Bị đây là bị ăn mày, mà tháo từ vị trí danh từ đã nhảy sang một động từ có tính cách khẩn cấp…bất khả kháng.
Năm 1873, sau khi tướng Pháp Francis Garnier bị quân Cờ Đen giết, các quan ta ở Hà Nội theo lệnh triều đình nghị hoà, nên phải tổ chức một buổi lễ truy điệu, để gây một không khí thuận tiện. Tổng đốc Hà Nội Trần đình Túc, cử Yên Đổ làm một bài văn tế. Cụ viết mấy câu sau:
Cái mắt ông xanh Cái da ông đỏ.
Cái tóc ông quăn Cái mũi ông lõ.
Đít ông cưỡi lừa Miệng ông huýt chó.
Ông đeo súng lục liên Ông đi giầy có mỏ.
Ông ở bên Tây Ông sang bảo hộ.
Ông dẹp Cờ Đen Để yên con đỏ.
Nào ngờ:
Nó bắt được ông Nó chặt mất sỏ.
Cái đầu ông kia Cái mình ông đó.
Khốn khổ thân ông Đù mẹ cha nó.
Tôi
Vâng lệnh quan trên Cúng ông một cỗ.
Này chuối một buồng Này rượu một hũ.
Này xôi một mâm Này trứng một rổ.
Ông có linh thiêng Mời ông xơi hộ.
Ăn uống no say Nằm cho yên chỗ.
Ới ông Ngạc Nhi ơi! Nói càng thêm khổ.
Sở dĩ lời văn mỉa mai đến sỗ sàng mà không ai hót với Tây, là vì bấy giờ Tây vẫn còn ra sức mua chuộc lòng dân, mà Yên Đổ lại là bậc đại khoa có uy tín trong quần chúng, không ai dám động đến. Vả chăng những lối trào lộng như đít đối với miệng, nằm cho yên chỗ, nó chặt mất sỏ, người Pháp đâu có hiểu lắt léo như ta dù có người dịch ra tiếng Pháp.
Đầu đời Đồng Khánh, Vũ văn Báo làm tổng đốc Nam Định, được cử đi công cán sang Pháp, đến nơi mặc triều phục chụp một bức ảnh.
Khi về, đưa ảnh tặng Yên Đổ. Cụ cám ơn bằng một bài thơ;
Bát nguyệt thừa tra công tứ khoan.
Tịch tiền tiểu ảnh tặng lai khan.
Côn hoàng bội phục chân vi sảo.
Ưu ái tinh thần trạng đắc nan.
Thiều mẫn tạm tuỳ sương tuyết cải.
Kính hoa giao đới hải vân hoàn.
Hạnh tai dư ảnh hựu công ảnh.
Bích thượng cao huyền hậu nhật quan.
Bản dịch của Nhân Phủ.
Tháng tám xong xuôi Sứ đáp tàu.
Tiệc vui đưa ảnh tặng cho nhau.
Cân đai vẻ ấy như in hỉ.
Ưu ái lòng kia dễ vẽ đâu?
Mái tóc dường theo sương tuyết nhuộm.
Kính hoa giữ mãi biển mây màu.
Ảnh tôi, ảnh bác đây hai bức.
Trên vách treo chung để lại sau….
Dụng tâm của Yên Đổ ở hai câu: ưu ái lòng kia dễ vẽ đâu, trên vách treo chung để lại sau…quả nhiên về sau này ai cũng thấy rõ lòng ưu ái không phải ở Vũ văn Báo hia mão cân đai, mà ở ông già khăn đóng áo dài.
Năm 1907, chính phủ bảo hộ đặt ban tu thư, chọn các ông khoa bảng họp lại biên khảo sách giáo khoa mới, chủ ý sửa đổi phép học và phép thi cũ.
Yên Đổ tặng một bài thơ:
Nhắn nhủ tu thư hỡi các ngài.
Đã tu tu kỹ,chớ tu lười.
Góp chung ba bốn năm mồm lại.
Rồi để trăm nghìn vạn mắt coi.
Bút gác núi Nùng thêm vẻ rạng.
Mực mài sông Nhị ngát hương trôi.
Bê ba sẵn sách đem ra đọc.
Để biết khoa danh biết mấy đời!
Tìm hiểu thêm về Nguyễn Khuyến:
http://thanglong.ece.jhu.edu/Covan/Nguyenkhuyen/thu.html
Năm 1864, đỗ Giải nguyên trường Hà Nội, năm 1871 đổ Hội nguyên và Đình nguyên, tức là Tam nguyên. Ba giải nhất, vì ít ai đỗ cao như thế nên mọi người gọi cụ là Tam nguyên Yên Đổ.
Sơ bổ đốc học Thanh Hoá, rồi thăng bố chánh Quảng Ngãi. Năm 1882, cử làm thương biện Hà Nội giữ việc thương thuyết với Pháp, sau bổ nhiệm tổng đốc Sơn Hưng Tuyên. Đến năm 1885, lấy cớ đau mắt cáo quan về nhà. Năm 1910 ( Canh Tuất ) tạ thế.
Thơ ca câu đối của Yên Đổ. Đây chỉ xin nhắc lại một vài giai thoại ít người biết, còn mấy bài thơ đã phổ biến đã chép lại để cho rõ tình tiết.
Tương truyền rằng khi còn ít tuổi, mắt ông đã kèm nhèm, vậy mà ngấp nghé cô con gái của ông Cử ở làng bên. Cô này bèn đem chuyện mách cha, ông Cử bèn cho mời ông đến, buộc làm một bài thơ, lấy đầu đề là: Cua chơi trăng. Lấy chữ trăng làm vần:
Thấy cái đầu đề có vẻ dè bỉu, ông tuy bực mình, song vẫn ngâm ngay tám câu:
Vằng vặc đêm thu ánh xế chừng.
Ham thanh, cua mới muốn chơi trăng.
Nghiêng mai lách ngược qua dòng biếc.
Ghé yếm bò ngang nhởn bóng hằng.
Cung quế chờn vờn hương mới bén.
Vườn đào thoang thoảng gió như nâng.
Một mai cá nước cua vui phận.
Trăng muốn tìm cua có được chăng.
Ông Cử thấy lời thơ hoạt bát và ý thơ khẳng khái, sinh lòng mến phục, nên đổi thái độ, tiếp đãi ân cần. Khi Nguyễn từ về, ông tiễn mãi ra cổng làng. Đến đây, thấy chùa làng có cây thông mọc bên một tháp cao, ông Cử tay trỏ miệng nói:
- Giờ xin thầy vịnh cái cảnh này đã rồi hãy về.
Yên Đổ đọc ngay:
Hữu nhất thanh tùng tại tháp tế.
Tháp, tùng trường đoản bất tương tề.
Thế nhân chỉ đạo thanh tùng đoản.
Tha nhật tùng cao tháp hựu đê.
Bản dịch của Nhân Phủ:
Thông, tháp hai cây đứng cạnh nhau.
Tháp dài, thông ngắn ngắm không đều.
Miệng đời chỉ nói thông sao thấp.
Thông mọc rồi cao, tháp thấm đâu.
Ông Cử khen ngợi không ngớt, sai học trò vác năm quan tiền theo Yên Đổ đến tận nhà, giao xong mới được về.
Không rõ về sau, cua có được chơi trăng không, nhưng cua cũng đã được dịp trổ tài nói ngang.
Yên Đổ là bạn thiết với Vân Đình, hai ông lại thường hay thi tài văn chương với nhau. Có lần đương cùng đi chơi trên đường cái quan, chợt thấy đằng trước có người ăn mày để bị trên bờ cỏ để lẩn vào sau bụi cây. Vân Đình đố Yên Đổ tìm được điển tích nào thích hợp với sự kiện ấy. Yên Đổ đọc:
Phương thốn loạn hĩ, sả Bị chi Tháo.
- Truyện Tam Quốc - Từ Thứ được thư của mẹ, trong bụng rối loạn, bỏ Lưu Bị đi sang với Tào Tháo.
Bị đây là bị ăn mày, mà tháo từ vị trí danh từ đã nhảy sang một động từ có tính cách khẩn cấp…bất khả kháng.
Năm 1873, sau khi tướng Pháp Francis Garnier bị quân Cờ Đen giết, các quan ta ở Hà Nội theo lệnh triều đình nghị hoà, nên phải tổ chức một buổi lễ truy điệu, để gây một không khí thuận tiện. Tổng đốc Hà Nội Trần đình Túc, cử Yên Đổ làm một bài văn tế. Cụ viết mấy câu sau:
Cái mắt ông xanh Cái da ông đỏ.
Cái tóc ông quăn Cái mũi ông lõ.
Đít ông cưỡi lừa Miệng ông huýt chó.
Ông đeo súng lục liên Ông đi giầy có mỏ.
Ông ở bên Tây Ông sang bảo hộ.
Ông dẹp Cờ Đen Để yên con đỏ.
Nào ngờ:
Nó bắt được ông Nó chặt mất sỏ.
Cái đầu ông kia Cái mình ông đó.
Khốn khổ thân ông Đù mẹ cha nó.
Tôi
Vâng lệnh quan trên Cúng ông một cỗ.
Này chuối một buồng Này rượu một hũ.
Này xôi một mâm Này trứng một rổ.
Ông có linh thiêng Mời ông xơi hộ.
Ăn uống no say Nằm cho yên chỗ.
Ới ông Ngạc Nhi ơi! Nói càng thêm khổ.
Sở dĩ lời văn mỉa mai đến sỗ sàng mà không ai hót với Tây, là vì bấy giờ Tây vẫn còn ra sức mua chuộc lòng dân, mà Yên Đổ lại là bậc đại khoa có uy tín trong quần chúng, không ai dám động đến. Vả chăng những lối trào lộng như đít đối với miệng, nằm cho yên chỗ, nó chặt mất sỏ, người Pháp đâu có hiểu lắt léo như ta dù có người dịch ra tiếng Pháp.
Đầu đời Đồng Khánh, Vũ văn Báo làm tổng đốc Nam Định, được cử đi công cán sang Pháp, đến nơi mặc triều phục chụp một bức ảnh.
Khi về, đưa ảnh tặng Yên Đổ. Cụ cám ơn bằng một bài thơ;
Bát nguyệt thừa tra công tứ khoan.
Tịch tiền tiểu ảnh tặng lai khan.
Côn hoàng bội phục chân vi sảo.
Ưu ái tinh thần trạng đắc nan.
Thiều mẫn tạm tuỳ sương tuyết cải.
Kính hoa giao đới hải vân hoàn.
Hạnh tai dư ảnh hựu công ảnh.
Bích thượng cao huyền hậu nhật quan.
Bản dịch của Nhân Phủ.
Tháng tám xong xuôi Sứ đáp tàu.
Tiệc vui đưa ảnh tặng cho nhau.
Cân đai vẻ ấy như in hỉ.
Ưu ái lòng kia dễ vẽ đâu?
Mái tóc dường theo sương tuyết nhuộm.
Kính hoa giữ mãi biển mây màu.
Ảnh tôi, ảnh bác đây hai bức.
Trên vách treo chung để lại sau….
Dụng tâm của Yên Đổ ở hai câu: ưu ái lòng kia dễ vẽ đâu, trên vách treo chung để lại sau…quả nhiên về sau này ai cũng thấy rõ lòng ưu ái không phải ở Vũ văn Báo hia mão cân đai, mà ở ông già khăn đóng áo dài.
Năm 1907, chính phủ bảo hộ đặt ban tu thư, chọn các ông khoa bảng họp lại biên khảo sách giáo khoa mới, chủ ý sửa đổi phép học và phép thi cũ.
Yên Đổ tặng một bài thơ:
Nhắn nhủ tu thư hỡi các ngài.
Đã tu tu kỹ,chớ tu lười.
Góp chung ba bốn năm mồm lại.
Rồi để trăm nghìn vạn mắt coi.
Bút gác núi Nùng thêm vẻ rạng.
Mực mài sông Nhị ngát hương trôi.
Bê ba sẵn sách đem ra đọc.
Để biết khoa danh biết mấy đời!
Tìm hiểu thêm về Nguyễn Khuyến:
http://thanglong.ece.jhu.edu/Covan/Nguyenkhuyen/thu.html
NGUYỄN HỮU HUÂN (Thủ khoa Huân – 1841-1875)
Sinh năm 1841 ( Thiệu Trị 1 ), tại Định Tường, làng Tịnh Hà: năm 20 tuổi đỗ thủ khoa nhưng không màng đến công danh. Năm 1861, đứng ra tổ chức nghĩa quân ở các tỉnh Định Tường, Kiên Giang, Hà Tiên, Châu Đốc. Lại giao thiệp với các tàu buôn Hải Nam để mua khí giới.
Sau vì cạn lương, ông phải giải tán nghĩa quân, về ẩn náu ở chợ Gạo, Định Tường.
Năm 1863, ông bị quân Pháp bao vây, ông chạy thoát về Châu Đốc, nhưng rồi bị bắt ở đó.
Pháp dụ hàng ông không chịu nên bị đày ra Côn đảo, và sau đày đi đảo Réunion.
Khi đi đày, ông làm bài thơ cảm khái:
Muôn việc cho hay số bởi trời.
Chiếc thân hồ hải biết đâu nơi.
Mấy hồi tên đạn ra tay thử.
Ngàn dặm non sông dạo gót chơi.
Chén rượu Tân đình nào luận tiệc.
Vần thơ cố quốc, chẳng ra lời.
Cương thường bởi biết mang nên nặng.
Hễ đứng làm trai trả nợ đời.
Năm 1874, triều đình nhường sáu tỉnh miền Nam cho Pháp, Pháp tha cho ông về, nhưng giao cho Tổng đốc Đỗ hữu Phương quản thúc.
Phương vốn là bạn cũ của ông, tổ chức một bữa tiệc mừng ông, luôn tiện mời các quan người Việt trong chính quyền mới đến dự.
Nhân có người yêu cầu ông thủ khoa làm bài thơ, ông mới thủng thẳng ngâm bài thơ như sau:
Nghĩ thẹn râu mày với nước non.
Nhìn nay tùng cúc, bạn xưa còn.
Miếu đường cách trở bề tôi chúa.
Gia thất riêng buồn nỗi vợ con.
Áo Hán nhiều phen thay vẻ lạ.
Rượu Hồ một mặt đắm mùi ngon.
Giang Đông nổi tiếng nhiều tay giỏi.
Cuốn đất nhiều tay, dám hỏi đon.
Nghe thơ cử toạ ra vẻ cảm động, nhưng không khỏi sượng sùng vì hai câu: áo Hán thay vẻ lạ. rượu Hồ đắm mùi ngon!
Trong thời gian bị quản thúc, ông chỉ ngâm thơ uống rượu, và tỏ ý băn khoăn về việc gia đình, cốt để cho Phương yên trí ông đã chán nản mọi việc. Quả nhiên Phương tưởng thật, xin Pháp trả tự do cho ông. Bấy giờ Pháp đã nắm vững được tình hình rồi, nên cũng ưng thuận thả ông ra. Được tha, ông lại ngầm tổ chức nghĩa quân chống Pháp.
Tháng 4 - 1875, ông bị quân Pháp vây bắt.
Lần này, Pháp lại dụ hàng nữa, song ông khăng khăng một mực, nên bị đem hành hình tại chợ Phú Kiết, tỉnh Định Tường.
Ông để lại bài thơ và câu đối như sau:
Hãn mã nan kham vị quốc cừu.
Chỉ nhân binh bại trí thân hưu.
Anh hùng mạc bả doanh thâu luận.
Vũ trụ trường khan tiết nghĩa lưu.
Vô bố nghĩa kinh Hồ lỗ phách.
Bất hàng cam đoạn Tướng quân đầu.
Đương niên Tho Thủy ba lưu huyết.
Long đảo thu phong khởi mộ sầu.
Bản dịch của Phan bội Châu:
Ruổi dong vó ngựa trả thù chung.
Binh bại cho nên mạng phải cùng.
Tiết nghĩa vẫn lưu cùng vũ trụ.
Hơn thua xá kể với anh hùng.
Nổi xung mất vía quân Hồ lỗ.
Quyết thác không hàng, rạng núi sông.
Tho Thủy ngày rày pha máu đỏ.
Đảo rồng hiu hắt ngọn thu phong.
Câu đối:
Hữu chí nan thân, không uổng bách niên chiêu vật nghị.
Tuy công bất tựu, diệc tương nhất tử báo quân ân.
- Có chí khôn bày, không uổng trăm năm lời nghị chúng.
- Tuy công chưa lập, cũng đành một thác báo ơn vua.
Rồi lại ngâm to một bài thơ Nôm sau đây, rồi mới ngửa cổ ra cho chém. Năm ấy ông mới 35 tuổi.
Hai bên thiên hạ thấy hay không?
Một gánh cương thường, há phải gông.
Oằn oại hai vai quân tử trúc.
Long lay một cổ trượng phu tòng.
Sống về đất Bắc danh còn rạng.
Thác ở thành Nam tiếng bỏ không.
Thắng bại, doanh thâu trời khiến chịu.
“ Phản thần ”, đ.m đứa cười ông!
Sau vì cạn lương, ông phải giải tán nghĩa quân, về ẩn náu ở chợ Gạo, Định Tường.
Năm 1863, ông bị quân Pháp bao vây, ông chạy thoát về Châu Đốc, nhưng rồi bị bắt ở đó.
Pháp dụ hàng ông không chịu nên bị đày ra Côn đảo, và sau đày đi đảo Réunion.
Khi đi đày, ông làm bài thơ cảm khái:
Muôn việc cho hay số bởi trời.
Chiếc thân hồ hải biết đâu nơi.
Mấy hồi tên đạn ra tay thử.
Ngàn dặm non sông dạo gót chơi.
Chén rượu Tân đình nào luận tiệc.
Vần thơ cố quốc, chẳng ra lời.
Cương thường bởi biết mang nên nặng.
Hễ đứng làm trai trả nợ đời.
Năm 1874, triều đình nhường sáu tỉnh miền Nam cho Pháp, Pháp tha cho ông về, nhưng giao cho Tổng đốc Đỗ hữu Phương quản thúc.
Phương vốn là bạn cũ của ông, tổ chức một bữa tiệc mừng ông, luôn tiện mời các quan người Việt trong chính quyền mới đến dự.
Nhân có người yêu cầu ông thủ khoa làm bài thơ, ông mới thủng thẳng ngâm bài thơ như sau:
Nghĩ thẹn râu mày với nước non.
Nhìn nay tùng cúc, bạn xưa còn.
Miếu đường cách trở bề tôi chúa.
Gia thất riêng buồn nỗi vợ con.
Áo Hán nhiều phen thay vẻ lạ.
Rượu Hồ một mặt đắm mùi ngon.
Giang Đông nổi tiếng nhiều tay giỏi.
Cuốn đất nhiều tay, dám hỏi đon.
Nghe thơ cử toạ ra vẻ cảm động, nhưng không khỏi sượng sùng vì hai câu: áo Hán thay vẻ lạ. rượu Hồ đắm mùi ngon!
Trong thời gian bị quản thúc, ông chỉ ngâm thơ uống rượu, và tỏ ý băn khoăn về việc gia đình, cốt để cho Phương yên trí ông đã chán nản mọi việc. Quả nhiên Phương tưởng thật, xin Pháp trả tự do cho ông. Bấy giờ Pháp đã nắm vững được tình hình rồi, nên cũng ưng thuận thả ông ra. Được tha, ông lại ngầm tổ chức nghĩa quân chống Pháp.
Tháng 4 - 1875, ông bị quân Pháp vây bắt.
Lần này, Pháp lại dụ hàng nữa, song ông khăng khăng một mực, nên bị đem hành hình tại chợ Phú Kiết, tỉnh Định Tường.
Ông để lại bài thơ và câu đối như sau:
Hãn mã nan kham vị quốc cừu.
Chỉ nhân binh bại trí thân hưu.
Anh hùng mạc bả doanh thâu luận.
Vũ trụ trường khan tiết nghĩa lưu.
Vô bố nghĩa kinh Hồ lỗ phách.
Bất hàng cam đoạn Tướng quân đầu.
Đương niên Tho Thủy ba lưu huyết.
Long đảo thu phong khởi mộ sầu.
Bản dịch của Phan bội Châu:
Ruổi dong vó ngựa trả thù chung.
Binh bại cho nên mạng phải cùng.
Tiết nghĩa vẫn lưu cùng vũ trụ.
Hơn thua xá kể với anh hùng.
Nổi xung mất vía quân Hồ lỗ.
Quyết thác không hàng, rạng núi sông.
Tho Thủy ngày rày pha máu đỏ.
Đảo rồng hiu hắt ngọn thu phong.
Câu đối:
Hữu chí nan thân, không uổng bách niên chiêu vật nghị.
Tuy công bất tựu, diệc tương nhất tử báo quân ân.
- Có chí khôn bày, không uổng trăm năm lời nghị chúng.
- Tuy công chưa lập, cũng đành một thác báo ơn vua.
Rồi lại ngâm to một bài thơ Nôm sau đây, rồi mới ngửa cổ ra cho chém. Năm ấy ông mới 35 tuổi.
Hai bên thiên hạ thấy hay không?
Một gánh cương thường, há phải gông.
Oằn oại hai vai quân tử trúc.
Long lay một cổ trượng phu tòng.
Sống về đất Bắc danh còn rạng.
Thác ở thành Nam tiếng bỏ không.
Thắng bại, doanh thâu trời khiến chịu.
“ Phản thần ”, đ.m đứa cười ông!
NGUYỄN CAO (Tán Cao)
Sinh năm 1840 tại làng Cách bi, tức làng Gạch, huyện Quế Dương, tỉnh Bắc Ninh, học trò Hoàng giáp Phạm văn Nghị, sau giữ chức Tán tương quân vụ chống Pháp, nên thường gọi là Tán Cao.
Cha là tri huyện Nguyễn Hành thất lộc sớm.
Năm Nguyễn Cao được 12 tuổi, gửi xuống ở nhà học Tú tài Nguyễn gia Chấp, xã Liễu Ngạn, phủ Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh.
Tú tài họ Nguyễn cũng thanh bạch lắm, quanh năm chỉ có sáng bữa cơm chiều bữa cháo. Những ngày nông vụ, thày trò còn phải ra ruộng nhổ mạ và làm việc đồng áng.
Đến năm 20 tuổi, học đã đủ lối, Nguyễn tú tài mới cho xuống nhập môn Hoàng giáp Phạm văn Nghị ở Tam Đăng. Năm 28 tuổi, Cao đỗ thủ khoa Đinh Mão ( 1867 ).
Ông được bổ làm tri huyện Yên Dũng, sau thăng tri phủ Lạng Giang. Lúc Pháp gây hấn ông giữ chức bang biện quân vụ. Rồi ông lên Bố chánh Thái Nguyên, được ít lâu xin đi khẩn hoang ở Nhã Nam.
Năm Quý Mùi ( 1883 ) ông giữ chức Bắc kỳ tán lý quân vụ. Đến khi triều đính ký hoà ước với Pháp, ông lấy làm bất mãn, bèn treo ấn từ quan.
Năm 1885, vua Hàm Nghi xuất bôn, xuống chiếu Cần Vương, Nguyễn Cao tìm đến chiến khu Bãi Sậy phụ lực với Nguyễn thiện Thuật, chuyên giữ việc huấn luyện chiến thuật du kích. Nghĩa quân do Nguyễn Cao chỉ huy thường đánh phá đồn Pháp, gây thiệt hại cho Pháp không ít.
Sau Pháp phải dùng đại binh, hợp quân cùng lính của Hoàng cao Khải và Lê Hoan, thắt chặt vòng vây. Chủ tướng Nguyễn thiện Thuật chạy lên Thái Nguyên rồi thuận đường sang Trung Hoa. Nguyễn Cao tìm về nương náu tại làng Kim Giang, phủ Ứng Hòa, tỉnh Hà Đông. Là làng của Phùng Thoại là đốc học cũng đã từ quan về ẩn. Ít lâu sau Phùng Thoại tạ thế, Nguyễn Cao bèn mở trường dạy học trong làng, học trò đến học rất đông. Vốn người đạo đức, nên được khắp vùng kính nể như bậc phụ huynh.
Một hôm có một nhà nho đến xin câu đối để mừng một ông đỗ tiến sĩ làm quan to. Nguyễn Cao viết:
Đại gia tích đức bách niên, nhi kim giã cao danh hiển hoạn.
Thánh triều khai khoa thủ sĩ, sở cầu hồ tử hiếu thần trung.
- Nhà đại gia tích đức hàng trăm năm, nên ngày nay ông nghè được làm quan to nổi danh lừng lẫy.
- Nhà vua mở khoa thi kén học trò, mong muốn rằng chọn được người làm con có hiếu, làm tôi phải trung.
Không ngờ ông Nghè cạn nghĩa cho rằng câu này dụng ý mỉa mai, bèn ngầm báo quan trên đến bắt họ Nguyễn về tội phản đối chính phủ Bảo hộ. Khi Nguyễn Cao bị bắt, học trò và cả dân làng Kim Giang, rủ nhau gom góp mỗi người một quan tiền xanh để lo lót cho Nguyễn, để Nguyễn được thả về.
Về sau, đề đốc Nhung muốn lập công, lại báo bắt lần nữa. Dân làng lại bổ tiền như lần trước, mong để Nguyễn thoát nạn, song ông không muốn phiền lụy xa gần nhiều quá, tự ra xuất thú. Khi bị giải ra trước quan ta lẫn tây, trong đó có Hoàng cao Khải, hội đồng dụ dỗ nếu chịu ra làm quan sẽ bổ chức to và còn hậu đãi. Nguyễn Cao không chịu hàng, hội đồng lại cho đem khí cụ tra tấn ra để doạ nạt. Ông mỉm cười, nói:
- Tôi đâu có sợ chết, sẽ có cách tự xử, khỏi phiền đến ai.
Ông thò tay vào trong áo lấy mảnh sứ đã dấu sẵn. Rạch bụng, rút ruột ra vứt vào mặt họ Hoàng, rồi thống mạ thậm tệ, làm cho cử tọa vừa kinh hoàng vừa tức giận. Lát sau, ông cắn lưỡi tự tận.
Văn thân Bắc hà có bài thơ viếng như sau:
Nhất đại tài danh, bách đại hùng.
Thệ tâm thiên địa, phi tràng bạch.
Khiết xỉ giang san mãn thiệt hồng.
Cố quốc dư thần dư nhất tử.
Hà thành chánh khí túc tam trung.
Bàng quan bất thiểu quan chiêm giả.
Nhân hỉ, nhân sầu, nhân tích công.
Bản dịch của Nhân phủ
Nhất mực tài danh, nhất mực hùng.
Bỏ mình vì nghĩa vẫn ung dung.
Dạ vàng tỏ rõ cùng trời đất.
Máu đỏ chan hoà khắp núi sông.
Nước cũ cô thần thừa một chết.
Thành Hà trung liệt đủ ba ông (1).
Bàng quan thiên hạ bao người đó?
Ai tủi, ai mừng, ai tiếc công.
Chú thích
1. Nguyễn tri Phương, Hoàng Diệu, Nguyễn Cao
Cha là tri huyện Nguyễn Hành thất lộc sớm.
Năm Nguyễn Cao được 12 tuổi, gửi xuống ở nhà học Tú tài Nguyễn gia Chấp, xã Liễu Ngạn, phủ Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh.
Tú tài họ Nguyễn cũng thanh bạch lắm, quanh năm chỉ có sáng bữa cơm chiều bữa cháo. Những ngày nông vụ, thày trò còn phải ra ruộng nhổ mạ và làm việc đồng áng.
Đến năm 20 tuổi, học đã đủ lối, Nguyễn tú tài mới cho xuống nhập môn Hoàng giáp Phạm văn Nghị ở Tam Đăng. Năm 28 tuổi, Cao đỗ thủ khoa Đinh Mão ( 1867 ).
Ông được bổ làm tri huyện Yên Dũng, sau thăng tri phủ Lạng Giang. Lúc Pháp gây hấn ông giữ chức bang biện quân vụ. Rồi ông lên Bố chánh Thái Nguyên, được ít lâu xin đi khẩn hoang ở Nhã Nam.
Năm Quý Mùi ( 1883 ) ông giữ chức Bắc kỳ tán lý quân vụ. Đến khi triều đính ký hoà ước với Pháp, ông lấy làm bất mãn, bèn treo ấn từ quan.
Năm 1885, vua Hàm Nghi xuất bôn, xuống chiếu Cần Vương, Nguyễn Cao tìm đến chiến khu Bãi Sậy phụ lực với Nguyễn thiện Thuật, chuyên giữ việc huấn luyện chiến thuật du kích. Nghĩa quân do Nguyễn Cao chỉ huy thường đánh phá đồn Pháp, gây thiệt hại cho Pháp không ít.
Sau Pháp phải dùng đại binh, hợp quân cùng lính của Hoàng cao Khải và Lê Hoan, thắt chặt vòng vây. Chủ tướng Nguyễn thiện Thuật chạy lên Thái Nguyên rồi thuận đường sang Trung Hoa. Nguyễn Cao tìm về nương náu tại làng Kim Giang, phủ Ứng Hòa, tỉnh Hà Đông. Là làng của Phùng Thoại là đốc học cũng đã từ quan về ẩn. Ít lâu sau Phùng Thoại tạ thế, Nguyễn Cao bèn mở trường dạy học trong làng, học trò đến học rất đông. Vốn người đạo đức, nên được khắp vùng kính nể như bậc phụ huynh.
Một hôm có một nhà nho đến xin câu đối để mừng một ông đỗ tiến sĩ làm quan to. Nguyễn Cao viết:
Đại gia tích đức bách niên, nhi kim giã cao danh hiển hoạn.
Thánh triều khai khoa thủ sĩ, sở cầu hồ tử hiếu thần trung.
- Nhà đại gia tích đức hàng trăm năm, nên ngày nay ông nghè được làm quan to nổi danh lừng lẫy.
- Nhà vua mở khoa thi kén học trò, mong muốn rằng chọn được người làm con có hiếu, làm tôi phải trung.
Không ngờ ông Nghè cạn nghĩa cho rằng câu này dụng ý mỉa mai, bèn ngầm báo quan trên đến bắt họ Nguyễn về tội phản đối chính phủ Bảo hộ. Khi Nguyễn Cao bị bắt, học trò và cả dân làng Kim Giang, rủ nhau gom góp mỗi người một quan tiền xanh để lo lót cho Nguyễn, để Nguyễn được thả về.
Về sau, đề đốc Nhung muốn lập công, lại báo bắt lần nữa. Dân làng lại bổ tiền như lần trước, mong để Nguyễn thoát nạn, song ông không muốn phiền lụy xa gần nhiều quá, tự ra xuất thú. Khi bị giải ra trước quan ta lẫn tây, trong đó có Hoàng cao Khải, hội đồng dụ dỗ nếu chịu ra làm quan sẽ bổ chức to và còn hậu đãi. Nguyễn Cao không chịu hàng, hội đồng lại cho đem khí cụ tra tấn ra để doạ nạt. Ông mỉm cười, nói:
- Tôi đâu có sợ chết, sẽ có cách tự xử, khỏi phiền đến ai.
Ông thò tay vào trong áo lấy mảnh sứ đã dấu sẵn. Rạch bụng, rút ruột ra vứt vào mặt họ Hoàng, rồi thống mạ thậm tệ, làm cho cử tọa vừa kinh hoàng vừa tức giận. Lát sau, ông cắn lưỡi tự tận.
Văn thân Bắc hà có bài thơ viếng như sau:
Nhất đại tài danh, bách đại hùng.
Thệ tâm thiên địa, phi tràng bạch.
Khiết xỉ giang san mãn thiệt hồng.
Cố quốc dư thần dư nhất tử.
Hà thành chánh khí túc tam trung.
Bàng quan bất thiểu quan chiêm giả.
Nhân hỉ, nhân sầu, nhân tích công.
Bản dịch của Nhân phủ
Nhất mực tài danh, nhất mực hùng.
Bỏ mình vì nghĩa vẫn ung dung.
Dạ vàng tỏ rõ cùng trời đất.
Máu đỏ chan hoà khắp núi sông.
Nước cũ cô thần thừa một chết.
Thành Hà trung liệt đủ ba ông (1).
Bàng quan thiên hạ bao người đó?
Ai tủi, ai mừng, ai tiếc công.
Chú thích
1. Nguyễn tri Phương, Hoàng Diệu, Nguyễn Cao
LÊ SĨ NGHỊ
Sinh năm 1877, quán tỉnh Hưng Yên, nổi tiếng thông tuệ từ nhỏ. Năm Giáp Ngọ ( 1894 ), năm 17 tuổi đã về thi Hương tỉnh Nam Định. Sĩ tử nghe tiếng ông đều thấy làm ngại. Kỳ đệ nhất, ông làm tới 7 bài kinh nghĩa. Lệ thi Hương chỉ bắt buộc có 2 bài, một bài kinh một bài truyện, ông làm tất cả 5 bài kinh 2 bài truyện, 7 bài đều được phê ưu, thật là một kỷ lục. Nhưng sau xét lại một bài, đầu bài là:
Đạo chi tương hành dã dư.
- Đạo của ta nếu gặp lúc được thi hành.
Lấy chữ Luận ngữ, ông chép đầu bài vô ý bỏ mất chữ Dã. Như thế là phạm trường quy, dẫu văn hay đến đâu cũng phải ra bảng con, tức là hỏng.
Khoa này hỏng, ông trở về cố gắng học thêm. Đến khoa Đinh Dậu ( 1897 ) lại hỏng nữa. Cách ba năm sau, khoa Canh Tý ( 1900 ) đỗ cử nhân á nguyên. Khi ban yến, quan trường gọi Lê đến hỏi:
- Anh Vũ Tuân đỗ thủ khoa, anh có phục không?
Ông thưa:
- Tôi lên đến Nam Định, mới biết khoa này có anh Vũ Tuân cùng thi, tài của anh còn hơn tôi gấp bội, âu cũng là cái số phận về khoa danh như thế.
Vũ Tuân và Lê Sĩ Nghị là hai người có chân tài, có thực học khét tiếng trong sĩ lâm. Song vì khoa ấy họ Vũ đỗ nhất, Lê đỗ nhì, mà người thứ ba lại là Lê Tuyên, một tay học xoàng. Nên Tú Xương có bài thơ:
Hai đứa tranh nhau cái thủ khoa.
Tuân khoe văn hoạt, Nghị văn già.
Khoa này đỗ rặt phường hay chữ.
Kìa chú Lê Tuyên đứng thứ ba.
Tú Xương buồn vì kỳ này lại trượt nữa nên chữa thẹn bằng cách diễu hai ông thủ khoa, á khoa: tài các ông tiếng vậy cũng chẳng bao nhiêu, bất quá hơn Lê Tuyên là nhiều.
Ông Nghị được bổ về làm Huấn đạo Kim Sơn ( Ninh Bình ). Lệ ngày xưa các quan mới bổ tới nơi nào khi vào quan tỉnh, phải mặc áo tấc và lạy hai lạy. Ông vào gặp công sứ Pháp, chỉ vái thôi chứ không lạy. Cái thái độ bất khuất ấy được dân chúng ca ngợi lắm.
Hôm sau, sang yết kiến Đốc học Nguyễn thượng Hiền, ông lạy ngay hai lạy. Cụ Nguyễn ngạc nhiên hỏi:
- Sao hôm trước ông vào sứ lại không lạy?
Ông thản nhiên thưa:
- Bẩm, hôm ấy tôi quên.
Đạo chi tương hành dã dư.
- Đạo của ta nếu gặp lúc được thi hành.
Lấy chữ Luận ngữ, ông chép đầu bài vô ý bỏ mất chữ Dã. Như thế là phạm trường quy, dẫu văn hay đến đâu cũng phải ra bảng con, tức là hỏng.
Khoa này hỏng, ông trở về cố gắng học thêm. Đến khoa Đinh Dậu ( 1897 ) lại hỏng nữa. Cách ba năm sau, khoa Canh Tý ( 1900 ) đỗ cử nhân á nguyên. Khi ban yến, quan trường gọi Lê đến hỏi:
- Anh Vũ Tuân đỗ thủ khoa, anh có phục không?
Ông thưa:
- Tôi lên đến Nam Định, mới biết khoa này có anh Vũ Tuân cùng thi, tài của anh còn hơn tôi gấp bội, âu cũng là cái số phận về khoa danh như thế.
Vũ Tuân và Lê Sĩ Nghị là hai người có chân tài, có thực học khét tiếng trong sĩ lâm. Song vì khoa ấy họ Vũ đỗ nhất, Lê đỗ nhì, mà người thứ ba lại là Lê Tuyên, một tay học xoàng. Nên Tú Xương có bài thơ:
Hai đứa tranh nhau cái thủ khoa.
Tuân khoe văn hoạt, Nghị văn già.
Khoa này đỗ rặt phường hay chữ.
Kìa chú Lê Tuyên đứng thứ ba.
Tú Xương buồn vì kỳ này lại trượt nữa nên chữa thẹn bằng cách diễu hai ông thủ khoa, á khoa: tài các ông tiếng vậy cũng chẳng bao nhiêu, bất quá hơn Lê Tuyên là nhiều.
Ông Nghị được bổ về làm Huấn đạo Kim Sơn ( Ninh Bình ). Lệ ngày xưa các quan mới bổ tới nơi nào khi vào quan tỉnh, phải mặc áo tấc và lạy hai lạy. Ông vào gặp công sứ Pháp, chỉ vái thôi chứ không lạy. Cái thái độ bất khuất ấy được dân chúng ca ngợi lắm.
Hôm sau, sang yết kiến Đốc học Nguyễn thượng Hiền, ông lạy ngay hai lạy. Cụ Nguyễn ngạc nhiên hỏi:
- Sao hôm trước ông vào sứ lại không lạy?
Ông thản nhiên thưa:
- Bẩm, hôm ấy tôi quên.
Subscribe to:
Posts (Atom)