Người Nghệ An, đời Tự Đức. Văn chương lỗi lạc nhưng khi thi khoa nào cũng hỏng.
Có lần ông đi chơi, qua tỉnh Thanh Hóa, bấy giờ Tôn Thất Thuyết làm tổng đốc tỉnh này. Nghe tiếng Thuyết hung dữ đa sát, ông muốn vào trêu. Khi vào dinh thì đã hết giờ hầu, ông xin lính canh cửa cho vào ngay "có việc mật". Bất đắc dĩ lính phải vào báo. Thuyết vội ra công đường hỏi:
- Anh có việc chi cần ?
Ông bẩm:
- Chúng tôi chỉ có một việc là học trò nổi tiếng hay chữ, mà thi mãi không đỗ, nay nghe quan lớn thường hay hóa kiếp mát tay lắm, nên đến nhờ ngài hóa kiếp cho.
Thuyết trừng mắt nhìn, hỏi:
- Mi thực là học trò hay chữ à? Ta ra cho bài thơ, nếu không làm được, ta sẽ hóa kiếp ngay cho.
Ông xin đề .
Thuyết ra:
Điên, ngộ, cuồng, ngu
Ngụ ý bảoo ông là người điên rồ ngu dại .
Ông ứng khẩu đọc ngay:
Cao tổ điên hào kiệt
Vũ đế ngộ thần tiên
Tăng điểm cuồng thiên địa
Nhan uyên ngu thánh hiền
- Điên: Hán Thư. - Hán Cao Tổ điên đảo những bậc anh hào kiệt
- Ngộ: Hán Thư. - Hán Vũ Đế lầm mộ đạo thần tiên.
- Cuồng: Luận Ngữ. - Thiên Tiến Tiến, Tăng Điểm là người cuồng, nhưng có sinh ý của trời đất.
- Ngu: Luận Ngữ, Thiên Vi Chính - Khổng Tử nói: Hồi dã bất vi như ngu - nghĩa là khi giảng bài, Hồi chỉ ngồi yên nghe như là người ngu (trong ba nghìn học trò, Nhan Hồi là bực hiền hơn cả, vào bực Á thánh).
Bài thơ này có bốn chữ: điên, ngộ, cuồng, ngu. Ông mô tả được, điên là điên Hán Cao Tổ, ngộ là ngộ Hán Vũ Đế, cuồng là cuồng Tăng Điểm, ngu là ngu Nhan Uyên, chứ không phải điên ngộ cuồng ngu tầm thường. Hai câu trên ám chỉ Thuyết có tính nóng nảy, hay hợm mình, và tin việc bói toán.
Hai câu dưới là ý ông tự phụ.
Thuyết nghe xong khen là hay, cho ngồi nói chuyện.
Hôm ấy trong tỉnh vừa xẩy ra việc một làng tế tư văn tranh giành nhau rồi thành đánh nhau.
Thuyết đưa hồ sơ cho ông xem, và nhân muốn thử tài, bảo vịnh một bài thơ về việc ấy, Ông không nghĩ ngợi đọc ngay:
Tăng Điểm xả sắt khỉ
Tử Lộ văn chi hỉ
Nhan Uyên thán vị nhiên
Phu Tử tiếu quản nhĩ
- Khi nghe thấy chuyện họ đánh nhau, Tăng Điểm bỏ đàn sắt đứng dậy. Thiên Tiên Tiến có chữ: Tăng Điểm sả sắt nhi tác.
- Tử Lộ nghe thấy đánh nhau thì mừng; vì tính thầy hiếu dũng. Thiên Công Dã Tràng có chữ: Tử Lộ văn chi hỉ.
- Nhan Uyên ngậm ngùi than thở vì thày là bậc đạo đức. Thiên Tử Hãn có chữ: Nhan Uyên vị nhiên thán viết.
- Đức Khổng Tử mỉm cười vây. Thiên Dương Hoá có chữ: Phu Tử quản nhĩ, nhi tiếu viết; bài thơ ngụ ý khôi hài; tả được tính tình các vị học trò Khổng Tử khi trông thấy đám đánh nhau, mà lại dùng toàn chữ liền trong Luận Ngữ chính văn .
Thuyết phục tài, ôn tồn nói:
- Người ta chỉ đồn rứa, chứ ta có giết quảng ai mô? Bình sinh ta rất ghét, và hay trừng trị những bọn gian tà phản bội, còn bực học giả thì ta vẫn trọng .
Liền gọi người nhà lấy năm nén bạc tặng ông, và ân cần dặn:
- Anh về chịu khó học, hễ thi đỗ ta sẽ lục dụng .
Mãi ngoài năm mươi tuổi, năm Bính Tuất (1886) đầu đời Đồng Khánh, nhân tránh loạn chạy ra Bắc Việt, gặp khoa thi hương trường Nam Định, ông xin phụ thí. (Ông người Nghệ An - Trung Việt mà thi ở Nam Định - Bắc Việt tức là biệt hạt nên gọi là phụ thí). Khoa ấy ông đỗ cử nhân, thủ khoa là Chu Mạnh Trinh .
Bấy giờ Tôn Thất Thuyết đã vì quốc sự chạy sang Tầu rồi.
Hồ tuy đỗ, nhưng không muốn ra làm quan, chỉ thích ngao du sơn thuỷ. Khi gặp Cường Để ở Huế, chuyện trò tâm sự rất là tương đắc. Không bao lâu sau, ông từ trần. Cường Để hồi gặp lại Phan Bội Châu sau này, còn nhắc lại việc gặp gỡ với Hồ, thán phục tài năng khí tiết, chỉ tiếc cho thọ số không dài để kịp ứng dụng vào lúc thời cuộc khó khăn.
Sunday, October 25, 2009
Subscribe to:
Post Comments (Atom)
No comments:
Post a Comment