Sunday, October 25, 2009

NGUYỄN VĂN BẬT (Cử Bật)

NGUYỄN VĂN BẬT (CỬ BẬT)

Thành Thái 19 (1906), trường sư phạm Hà Nội mới mở, chọn các cử nhân tú tài và nhất nhị trường cũ vào học chữ quốc ngữ, để khi mãn khóa bổ đi dạy các tổng . Chương trình thi có những bài toán pháp, thiên văn, địa dư, cách trí, và bài chữ nho dịch ra quốc ngữ .

Viên tri huyện họ Hoàng, giáo học trường sư phạm, ra đầu bài chữ nho, lấy câu đầu sách Đại học, cho thí sinh dịch:
Tri chỉ nhi hậu hữu định, định nhi hậu năng tĩnh, tĩnh nhi hậu năng an, an nhi hậu năng lự, lự nhi hậu năng đắc .

- Có biết đến cùng, sau mới có định, định rồi sau mới tĩnh, tĩnh sau mới yên, yên sau mới có thể nghĩ ngợi tinh tường, nghĩ ngợi tinh tường sau mới được điều phải điều hay .

Các thí sinh cứ theo đúng nghĩa, dịch cho xong bài . Duy có cử nhân Nguyễn Văn Bật ở Sơn Tây, ngày thường hay tỏ vẻ bất bình vì khinh viên huyện Chính không phải là khoa bảng xuất thân, nên cố ý dịch khôi hài để chế nhạo:

Người ta phải biết ăn ở cho phải chẳng, thì chí hướng mới định, muốn thế phải đến làng Tri chỉ mà ở . Chỗ ở đã định rồi, thì phải tìm thú vui, thú vui không đâu bằng phố Năng Tĩnh Nam Định, chỗ ấy có lắm cô đào ở . Đã thú vui rồi, lại muốn yên thân, thì phải tìm đến huyện Năng An mà ở . Đã yên thân rồi, mới nghĩ ngợi được mọi cơ mưu, thí dụ như người làm quan, phải nghĩ làm sao lấy được nhiều tiền . Khi đã có nhiều tiền rồi, phải có trò chơi thỏa thích, như đánh tổ tôm, làm thế nào ù được nhiều, lấy vợ làm sao đẻ được nhiều con, thế gọi là năng đắc .

Viên huyện Hoàng xem bài dịch rất lấy làm căm tức, đưa ra trình hội đồng . Hội đồng gồm có phó bảng họ Phạm cùng các quan viên học chính, và đại diện phủ thống sứ . Viên chủ tịch bảo Bật đọc bài . Bật cứ thản nhiên đọc nguyên văn như trên, không ngượng nghịu gì . Mọi người đều bưng miệng cười .

Họ Phạm hỏi Bật:
- Nghĩa sách thầy học như vậy à ?

Bật thưa:
- Bài dịch này, chủy ý tôi chỉ để riêng cho ông huyện Hoàng xem, chứ không ngờ đến tai hội đồng, xin ngài châm chước cho .

Họ Phạm đề nghị với hội đồng xử phạt cử Bật, từ đấy không được dự thi kỳ nào nữa .

Họ Phạm vốn người làng Bạch Sam, Hưng Yên . Xuất thân phó bảng, trước tòng sự tại ty liêm phóng, đến khoảng 1920, ngồi tổng đốc Thái Bình .

Bấy giờ có tri huyện Vũ Tiên, thường giả tiếng thanh liêm đạo đức, đứng lên quyên tiền làm một ngôi chùa ở giữa cánh đồng, gọi là chùa Hiệp Phật .

Trong chùa có tượng bà Hiệp Phật, tay cầm thanh kiếm, tay cầm cánh buồm, kiếm ngụ ý trừ khử gian ác, buồm ngụ ý cứu vớt chúng sinh . Khi chùa khánh thành, có nhiều thi văn đề vịnh để tán dương hay công kích, trong có 2 bài sau đây được nhiều người để ý:

I
Một mình thơ thẩn bãi tha ma
Ngảnh cổ trông lên tượng Phật bà
Tay muốn giết ai mà kiếm chống ?
Lòng toan che tục, dở buồm ra
Bạc vàng mấy chỉ ghim trong dạ
Son phấn vài đồng phủ trước da
Hiệp Phật chân thân đâu có thế
Si-mo trộn cát đó thôi mà!

II
Bà đứng làm chi đấy hỡi bà ?
Chùa sao không ở, ở tha ma!
Tay mang buồm giả không ăn cánh
Nách cắp gươm cùn muốn tuốt da
Tiếng đã ăn chay còn nếm mặn
Cớ chi bóp trẻ, chẳng tha già
Bây giờ đắc thế thì như thế
Tháng tám năm nào cùng quá ma ...

Hai bài được đưa lên trình tổng đốc, cụ lớn Phạm coi rồi, chỉ cười:
Bạc vàng mấy chỉ ghim trong dạ

Chữ "ghim" được lắm đấy chứ!

Bây giờ đắc thế thì như thế
Tháng tám năm nào cùng quá ma ...

No thì bụt, đói thì ma, chớ sao!

Ông cười nhất là câu:
Tay mang buồm giả không ăn cánh

vì ông tự hỏi tác giả bảo tri huyện "giả vờ không ăn cánh" thì làm ám chỉ viên huyện ăn cánh với ai vào đây nhỉ ?

Khi Phạm về làm thượng thư bộ Hộ, nhân năm ấy chính phủ bán phiếu quốc trái, buộc các làng và các tư gia giầu có phải mua, ông có câu đối:
- Dân phải quốc trái
Có người đối:
- Nam ở Tây về

Câu ra ý nói dân đều phải mua phiếu quốc trái, nhưng chữ "phải", "trái" lại có nghĩa: dân là phải mà quốc (chính quyền) là trái .

Câu đối: nhân năm ấy cuộc Âu chiến vừa kết liễu, người Việt Nam đi lính sang Tây đều được xuống tầu về nước . Hai chữ "ở", "về" cũng lại hàm thêm nghĩa: Người Nam ở lại nước Nam, còn Pháp thì ... cút về Tây!

Hay nhỉ, người Pháp mà lại về Tây ư ? Họ Phạm xem đối, cũng lại ... chỉ cười!

No comments:

Post a Comment