Sunday, October 25, 2009

VŨ PHẠM HÀM (Thám Hàm)

Người làng Đôn Thư, tỉnh Hà Đông, Bắc Việt, sinh năm 1863 .

Vốn dòng nho gia, tư chất thông minh vượt bực, chí khí cũng khác người .

Thủa nhỏ, ông có bài vịnh "Con cua" để tỏ chí mình:
Linh đài nhất điểm tự phân minh
Thùy bả vô tràng mạn phẩm bình
Thảo dã thử thân nguyên hữu dụng
Giang sơn đáo xứ tẫn hoành hành

Huyền hoàng mãn phúc, văn tâm nhuận
Qua giáp đương đầu: võ lược tinh
Thiên hạ chính đương cơ khát vọng
Quân như bất xuất, thục điều canh ?

- Một điểm ở linh đài (tâm) rất rõ rang
- Vậy mà người ta cứ bảo là cua không có ruột
- Tuy ở chốn thảo dã, nhưng thân hữu dụng
- Giang sơn đến đâu cũng hoành hành (đi ngang)
- Trong bụng có sắc đen và sắc vàng, là sẵn có văn chương
- Đầu có gươm, mình có áo giáp là giỏi võ lược
- Thiên hạ đương mong mỏi, ví như đói mong ăn, khát mong uống
- Nếu cứ ở yên mà không chịu ra, lấy gì giúp việc nấu canh ?

Bốn chữ "Quân như bất xuất" lấy điển Tạ An đời Tần, có chữ "Bất xuất như thương sinh hà" (nếu không ra, thì dân biết trông cậy vào ai). "Thục điều canh" lấy điển Phó Duyệt: "Điều canh dụng nhữ tác diêm mai" ý nói vua tôi hợp nhau như người nấu canh vừa mắm vừa muối .

Bản dịch Nhân Phủ:
Khuông thiêng sẵn có đủ phân minh
"Không ruột" đời sao dám phẩm bình!
Cỏ nội, thân này còn hữu dụng
Giang sơn đâu cũng vẫn hoành hành
Gấm hoa đầy bụng: văn tâm đẹp
Qua giáp đương đầu: võ nghệ tinh
Thiên hạ chính đang khoa khát đấy
Vắng anh, ai kẻ đứng điều canh ?

Năm 21 tuổi đỗ thủ khoa (giáp thân, đời Kiến Phúc, 1884).

Đến khoa thi hội, năm nhâm thìn, Thành Thái 4, 1892, đỗ hội nguyên, vào đình đỗ thám hoa, nên gọi là tam nguyên Thám Hoa, gọi tắt là "ông Thám".

Triều Nguyễn, Bắc kỳ có ba tam nguyên:
Tam Nguyên Vị Xuyên Trần Bích san, Tam Nguyên Yên Đỗ Nguyễn Khuyến, và ông .

Nhưng hai ông trên đỗ nhị giáp, riêng ông nhất giáp: nước ta từ trước, đỗ tam nguyên nhất giáp duy chỉ có ông và đời Lê, bảng nhỡn Lê Quý Đôn nữa mà thôi .

Ông có trí nhớ ít người bì kịp . Khoa hội năm nhâm thìn, đầu bài ra 24 tiên nho, ông nhớ được đủ tên . Lúc đỗ, Đồng Văn Nhật Báo đã đăng:
Vũ quân kỳ khôi tinh giáng thế dư! (Ông Vũ phải chăng là sao giáng thế ?)

Bấy giờ, ở Thanh Hóa có ông Triệu văn hay chữ tốt, nhưng lạo đảo trường ốc, thi đến năm 64 tuổi mà vẫn không đỗ . Tuổi càng cao, bạn đồng hành càng vắng, người học lớp sau thì ông lại cho tài kém cả, nên thường than thở một cách tự phụ: "Không biết còn nói chuyện văn chương với ai được nữa bây giờ!"

Khi nghe tiếng Vũ Phạm Hàm vừa đỗ tam nguyên Thám Hoa; ông đã 72 tuổi . Bụng nghĩ không biết anh này học lực thế nào mà đỗ cao đến thế, bèn quyết định ra Đôn Thư để thử tài .

Hôm ấy nhằm ngày 26 tháng Chạp năm Nhâm Thìn 1982, ông chặt mấy buồn cao tốt ở vườn, lững thững một mình gánh đi .

Sáng 30 tới làng Đôn Thư, hỏi thăm đến nhà ông Thám, thì gặp lúc trong nhà đương tấp nập chuẩn bị ăn tết . Ông để cau ngoài sân, bó gối ngồi trên cái đòn gánh, người nhà không ai để ý đến .

Mãi quá trưa, bà Thám ở trong nhà ra, trông thấy mới hỏi:
- Ông lão ở đâu đến thế kia ?
- Thưa, tết đến nơi cần tiền tiêu, lão đưa hai buồng cau đi bán .

Bà Thám đến xem cau hỏi giá . Ông Thưa:
- Bà lớn muốn trả bằng nào cũng được .

Trong khi bà Thám mãi chọn cau, ông lò dò lên nhà khách, vờ xem hoành phi câu đối, nhác thấy ông Thám đang tưới các chậu lan ở trong sân nhà ngang, ông bèn đứng dậy gật gù ngâm nga, đáng tiếng .

- Ông lão cũng biết chữ đấy à ?
- Bẩm lão cũng lõm bọ

Rồi ông Triệu hết sức tán dương, những là ông Thám học rộng đỗ cao, nhà cửa sang trọng ...

Ông Thám rất đẹp ý . Chợt trông thấy bàn cờ sơn son treo trên vách, ông Triệu giả bộ ngớ ngẩn:
- Thế quan lớn cũng biết đánh cờ kia à ?

Ông Thám tức lộn ruột, nhưng cố nhịn nói:
- Lão có biết đánh khổng

Ông ung dung thưa:
- Cái gì chứ cờ thì xin thú thực là cao tuyệt . Nếu hôm nay quan lớn thư thả, lão xin hầu mấy ván .

Ông Thám không trả lời, vẫy ông vào trong, rồi sai người nhà lấy bàn cờ xuống .

Ông Thám ngất ngưởng ngồi trên sập, dựa lưng vào gối xếp, đưa tay bầy một bên cờ, còn một bên, ông Triệu đứng dưới lom khom bầy . Xong, ông Thám giơ tay toan đi trước, ông Triệu vội chặn lại nói:
- Lão quê mùa chỉ được nghe danh quan lớn, nay ngài lại quá yêu cho hầu cờ, thật lấy làm hân hạnh . Nhưng xin phép quan lớn, xưa nay những bậc tao nhân đánh cờ bao giờ cũng có thưởng phạt, ai thua ba ván phải phạt uống ba chén rượu đầy . Phạt rượu như thế là thường, lão muốn khác hơn kia ạ .

Ông Thám hỏi:
- Lão muốn thế nào ?
- Ý lão vừa đánh cờ vừa làm thơ, nếu không làm xong thơ, phạt uống 3 chén rượu .

Ông Thám nói:
- Lão đã muốn thế, thì xong một ván cờ, mỗi người xong một bài thơ, ai chưa xong, sẽ phải phạt .

Ông Triệu tủm tỉm cười:
- Xong một ván cờ, mới xong một bài thơ, thì ai chả làm được! Lão muốn cứ đi một nước cờ, phải ngâm xong một bài thơ, như thế thưởng phạt mới xứng đáng .

Ông Thám nghe nói, lạnh toát cả người, trong bụng phân vân, tự hỏi hay là tiên đến thử tài mình đây chăng ? Liếc mắt nhìn lại, thấy tuy ăn mặc quê mùa, nhưng cốt cách thanh tú, mới hối là trót vô lễ với bậc già cả: mình ngồi trên sập, mà để người đứng dưới đất . Ông vội gọi người nhà đưa ghế mời ngồi, và bưng nước trà . Nhưng ông Triệu sua tay, ra ý không cần, và gặng lại:
- Ngu ý như vậy, tôn ý thế nào ?

Ông Thám tuy đã hàn tâm, nhưng nghĩ tiếng tăm Tam Nguyên Thám Hoa lừng lẫy, không lẽ lại chịu một ông lão nhà quê về việc văn chương, bèn gượng lại trả lời:
- Xin tuân .

Ông Triệu giơ tay mời ông Thám đi nước đầu, ông Thám ôn tồn nói:
- Tiền khách hậu chủ, xin mời lão đi trước .

Ông Triệu kiêu hãnh không từ chối .

Ông Thám mừng thầm bước khó khăn đã nhường được rồi, và đợi xem thi tài của đối thủ ra sao .

Ông Triệu vừa để tay lên con pháo, vừa cất giọng ngâm:
Chi giao tình khởi tại văn chương
Nhất kiến chi như nhập lý hương
Tức vũ trụ trung giai phận sự
Ư thiên địa nội hữu cương thường ...

Bài thơ có bốn chữ đầu: chi, nhất, tức, ư là những chữ thường dùng để đệm, nay cố ý lập dị, đưa lên đầu câu . Trong thơ đại ý nói ông Thám đỗ cao thì mặc ông, nhưng cương thường để đâu, sao không biết trọng người già cả ?

Ông Thám nghe ngâm dứt câu, rất đỗi kinh dị, nhân thấy ông già nói giọng miền Thanh Hoá, chợt nghĩ đến tiếng đồn "Nghệ Lương Hành, Thanh Triệu Bích" (ở Nghệ có ông Lương ông Hành, ở Thanh có ông Triệu ông Bích) phỏng đóan đây là một trong hai văn nhân danh tiếng đất Thanh Hoá, vội nhẩy xuống, chắp tay nói:
- Tôi hỏi khí không phải, cụ có phải cụ Triệu ở Thanh không ?

Ông Triệu đáp ngay:
- Chính lão .

Ông Thám liền mời ông lên sập và nói:
- Thưa bác, cháu tuy đỗ đạt, nhưng đỗ với người khác, chứ khi nào dám đỗ với bác; sao bác hạ cố đến chơi, không bảo thực cháu, lại còn thử thách làm gì thế!

Rồi gọi bà Thám lên chào, và bắt người nhà làm cơm, giữ ông Triệu ở chơi đến mồng 10 tết mới tiễn ra về .

......

No comments:

Post a Comment