Sunday, October 25, 2009

VŨ DUY THANH

VŨ DUY THANH

Người Kim Bồn, nay là làng Vân Bồn, huyện Yên Khánh, Ninh Bình, Bắc Việt . Sinh thời Gia Long, đỗ cử nhân đời Thiệu Trị .

Thi hội mấy khoa không đỗ, đến năm Tân Hợi, Tự Đức IV (1851), đỗ phó bảng . Khoa này, Phạm Thanh người Thanh Hóa đỗ bảng nhỡn . Kéo bảng xong, vua Tự Đức nằm mơ thấy có người bảo : "Khoa này còn bỏ sót lại người tài", và đưa một cái bảng ra, trong có hai chữ Thanh . Khi tỉnh dậy, vua lấy làm phân vân, sau cho mở thêm ngày ân khoa, gọi là khoa hoành từ, cho các tú tài củ nhân và phó bảng đã đồ từ trước đến nay đều được vào thi cả .

Khoa hội ấy, Vũ Huy Dực người Bắc Ninh, đã đỗ 6 khoa tú tài, được chấm đỗ hội nguyên, Vũ Duy Thanh đứng thứ nhì .

Khi vào thi đình, Vũ Duy Thanh được 8 phân, mà Vũ Huy Dực được có 6, thành ra Vũ Duy Thanh đỗ bảng nhỡn trị trạng nguyên, Vũ Huy Dực đỗ thám hoa; vì thế nên thường gọi Vũ Duy Thanh là cụ bảng Kim Bồng . Triều Nguyễn không lấy trạng nguyên, kể khoa bảng ông cao hơn mọi người .

Ông tư chấ cực thông minh, phàm sách đã trông qua một lượt là nhớ, lại có tài ứng đối mẫn tiệp .

Ngày con đi học, gặp năm nước sông lên to, tri phủ Yên Khánh về đốc dân hộ đê, ông đi ngang qua đó, lính bắt phải xuống khiêng đất, ông xin miễn lấy cớ là học trò yếu ớt .

Tri phủ nói:
- Nếu thực là học trò, ta ra cho câu đối:
Quan thị đắp đê Kim Bồng, chắn hồng thủy cho dân được cậy

Ông ứng khổi đối ngay:
Nhà nho đỗ khoa bảng nhãn, quyết tranh khôi, thì chí mới cam

Câu ra dụng ý dùng bốn thứ quả: thị, hồng, bồng, cậy (chữ thị: tri phủ nguyên là hàm thị độc).

Câu đối lại có bốn thứ quả: nho, nhãn, chanh, cam .

Lúc đối là ngẫu nhiên, cốt đối cho đúng lệ mà thôi, ai ngờ về sau ông đỗ bảng nhãn, thành ra câu đối có vẻ ứng nghiệm như lời thi sấm, nên mới được truyền tụng .

Khi đỗ bảng nhãn ông đã 45 tuổi, được bổ vào Tập Hiền Viện, rồi thăng chức Quốc Tử Giám tế tửu .

Gặp năm tế Nam Giao, ông xung vào chức bồi tự, phàm các quan dự tế, mỗi người phải nghĩ một câu đối để viết vào đàn giao . Câu của ông:

Chí thành tùy địa hữu vu, như tại kỳ thượng, tại kỳ tả hữu,
Thánh đức dữ thiên vô gián, nhi huống ư nhân, huống ư quỷ thần .

- Chữ Trung dung: lòng thành tùy chốn nào, cũng có cảm tin như là thần minh ở trên,và ở tả hữu
- Chữ Kinh Dịch: đức nhà vua đối với trời không xa cách (gián đoạn) huống chi người và quỷ thần .

Vua Tự Đức ban khen .

Một hôm vua hỏi:
- Trẫm muốn thăng chức cho khanh, tùy ý khanh chọn chức gì .

Ông tâu:
- Thần chỉ muốn ở gần kinh khuyết; được trông thấy thánh quang luôn luông, vậy nên xin giữ chức tế tửu để rèn luyện học trò, là thoả nguyện .

Vua chiều ý, để làm tế tửu mãi đến lúc mất .

Năm Tự Đức 12 (1859), Pháp đánh lấy cửa Đà Nẵng và ba tỉnh Nam Kỳ, ông thấy khí giới lợi hại, và tàu bè vận chuyển nhanh chóng, bèn nghĩ chế một chiếc thuyền, chạy bằng hơi nước, đem cho chạy thử ở cửa Thuận: tuy máy móc không bằng người Âu, nhưng về sáng kiến, ông tỏ ra là người có óc khoa học .

Lúc vào chấm trường ở Bình Định, qua đèo Hải Vân, phải trèo nhiều đồi núi, đường đi vất vả, trong khi nằm trên cáng, ông làm bài thơ tập thơ cổ :

Vân khởi cao đài nhật vị trầm (Liễu Tôn Nguyên)
Đạm yên sơ khánh tản không tâm (Lưu Sương)
Tam xuân nguyệt chiếu thiên sơn lộ (Ôn Đình Quân)
Lục mạc thiên không vạn lý tâm (Hồ Túc)
Tử dản thượng thiêm hoàng chỉ án (Ngô Dung)
Ngọc thư ứng niệm tố trần xâm (Lý Quần Ngọc)
Nhất danh sở hệ vô cùng sự (Tiết Phùng)
Nhật mộ liêu vi Lương Phủ ngâm (Đỗ Phủ)

Bài này lấy trong Đường thi, trích mỗi bài một câu, hợp lại 8 câu thành bài .

Bốn câu trên tả cảnh núi buổi chiều
Bốn câu dưới nói tâm sự mình

- Khi lên núi, thấy mây đùn ở núi lên, mà mặt trời chưa lặn
- Lúc ấy sương đã xuống, nghe thấy tiếng khánh ở rừng xa đưa lại
- Bóng trăng về tháng ba soi rõ đường núi
- Tấc lòng bâng khuâng nghĩ khắp muôn dặm và sáu cõi ở trong trời đất
- Nghĩ mình đã được thẻ tía, lại thêm giấy vàng (ơn vua)
- Tờ ngọc thư là vật quý, chỉ sợ bụi làm nhơ (sao cho giữ được tiết trong sạch)
- Chỉ vì cái danh mà phải ràng buộc
- Nên buổi chiều thường đọc bài thơ Lương Phủ (Khổng Minh lúc còn ẩn ở Long Trung hay ngâm bài này) .

Dịch nôm
Mây phủi đài cao bóng ác tà
Khánh đâu rừng vắng vẳng nghe qua
Ba xuân trăng tỏ nghìn non quạnh
Sáu cõi trời cao vạn dặm xa
Ân nặng bao phen tờ dụ xuống
Tình riêng những ngại bụi đời nhơ
Cái danh ràng buộc thêm nhiều việc
Khúc cũ ngâm tràn luống ngẩn ngơ ...


Lúc nhàn rồi ông cao hứng vịnh bài thơ "Phong Hoa Tuyết Nguyệt":

Thi đàn tế liễu lộng hoa hài
Khách bộ tùy sương, ấn bích đài
Kỳ cục đả phong thanh áp trận
Tửu biều nghinh tuyết bạch hòa bôi
Sơ liêm thấu nguyệt hương ly cúc
Yến tịch lăng hoa vị át mai
Phi phất lĩnh đầu chiêm tĩnh điếm
Thi đàn tế liêu lộng hoa hài

- Đi hài hoa đến thi đàn, qua dặng liễu nhỏ
- Lốt giầy khách đi sớm, in trên rêu biếc
- Nhân lúc gió mát đánh cuộc cờ
- Có tuyết xuống nghiên bầu rượu uống
- Vườn cúc bóng trăng soi qua rèm thưa
- Mùi hương hoa mai đưa vào tiệc yến
- Phất phơ gió thổi qua điếm vắng trên đỉnh núi
- Đi hài hoa đến thi đàn, qua dặng liễu nhỏ

Bài này tài tình, đọc xuôi là thơ chữ Hán, đọc ngược từ dưới lên trên theo lối đọc chữ nôm thì lại thành thơ quốc văn:

Giầy hoa lỏng lẻo tới đàn thơ
Điếm tạnh xem đầu núi phất phơ
Mai át mùi hoa lừng tiệc yến
Cúc lìa hương nguyệt thấu rèm thưa
Chén hoà bạch tuyết nghiêng bầu rượu
Trận áp thanh phong đánh cuộc cờ
Rêu biếc in sương theo bước khách
Giầy hoa lỏng lẻo tới đàn thơ .

Năm Tự Đức XII 91859) vua sai Nguyễn Tri Phương vào quân thứ Nam Kỳ, để chống giữ với người Pháp, Nguyễn với ông vốn là bạn tâm giao, nên khi lâm hành, ông có tiễn bài thơ:

Nước non xưa vẫn nước non này:
Cõi bắc ngàn nam suốt một dây
Ba tỉnh cát lầm đương rộn nỗi
Chín lần gươm báu phải trao tay
Đẩy xe vâng chỉ không dong giặc
Truyền hịch ra quân sớm định ngày
Cờ tía những mong tin báo tiệp
Tên ghi gác khói, tượng đài mây ...

- Khói là yên, mây là vân . Nhà Hán, những công thần được khắc tên và vẽ tượng ở Lăng Yên Các và Vân Đài .

Lúc ở Quốc Tử Giám, thường có một người đến chơi, không nói tên họ, chỉ xưng là Bình Sơn Thi Khách, xướng họa thi văn với ông rất là tương đắc .

Một hôm vào khoảng thánh hai, Bình sơn đến nhà, ông đi vắng, khách để lại mấy chữ:
Nhất giáp nhất danh kim bảng quý
Tứ nguyệt tứ nhật ngọc lâu thành

Từ đấy không thấy Bình Sơn trở lại . Đến ngày mồng 4 tháng 4 năm ấy ông từ trần . Bấy giờ mới hiểu câu Tứ nguyệt tứ nhật ngọc lâu thành .

Sau khi từ trần, giám thần dâng sớ lên, vua Tự Đức châu phê : Khả mẫn gia tuất tiền bách (khá thương gia ân cho 100 quan tiền), và cho đưa quan tài về quê ở Ninh Bình, tư cho đi qua tỉnh nào, các học quan tỉnh ấy đều phải phúng điếu . Các quan ở Kinh có câu đối viếng:
Cửu nguyên di hận Trà Sơn úc
Thiên lý quy hồn Thuý Lĩnh phong
- Chín suối còn di hận ở vùng núi Trà sơn (thuộc Đà Nẵng): Lúc Pháp đánh cửa Đà Nẵng, ông có dâng sớ xin tòng quân, nhưng vua không cho .
- Du hồn về núi Thúy sơn, đường xa nghìn dặm (Thuý sơn thuộc Ninh Bình).

Câu đối của bảng nhãn Phạm Thanh:
Nhân bảo đương vi thiên hạ tích
Hoạn tình năng động cửu trùng lân
- Người quý nay mất đi, thiên hạ đều tiếc
- Tính làm quan thanh bạch, cửu trùng cũng thương

Câu đối của nội các Vũ Phạm Khải:
Đông canh đồng thuận, đồng tính thị châu lư, vãn bối suy quân tiêu vật vọng
Thử cảnh thử tình, thử giang sơn bi kiệt, tích hiền tiên ngã ký sầu ngâm
- Cùng tuổi, cùng học, cùng họ lại cùng tỉnh, những học trò lớp sau đều tôn trọng ông là bực tiêu biểu: ông Khải chỉ đỗ cử nhân nên mong học trò lớp sau, đỗ được cao như ông bảng .
- Tình ấy, cảnh ấy, núi sông ấy và bia đá ấy, người hiền xưa đã trước ta, gửi tiếng sầu ngâm: người xưa, chỉ Trương Hán Siêu, vì Trương làm bài văn bia Linh Tế Tháp, ông Bảng có bài Bình Linh Tế Tháp, việc văn chương có can hệ đến mối sầu cảm .

No comments:

Post a Comment